GIỚI THIỆU
Bệnh nhân dùng thuốc quá liều thường rơi vào tình trạng hôn mê, dẫn đến không duy trì được nhịp thở tự nhiên. Khi đã uống đủ liều lượng, nhiều nhóm thuốc có thể gây suy hô hấp. Bên cạnh đó, suy tim mạch cũng thường gặp trong bối cảnh quá liều. Ma túy và thuốc an thần có thể gây hạ huyết áp; ngược lại, thuốc chống trầm cảm 3 vòng và cocaine có nguy cơ gây rối loạn nhịp tim, đe dọa tính mạng. Thời gian cần hỗ trợ thông khí có thể ngắn hoặc kéo dài, tùy thuộc vào loại thuốc dùng quá liều, lượng thuốc đã uống và sự hiện diện của bệnh phổi sẵn có hoặc các biến chứng đi kèm. Nguy cơ hít phải dịch/khí (hít sặc) vẫn có thể là mối quan tâm chính ngay cả khi số lượng thuốc uống chưa đủ để làm giảm nhịp thở tự phát, vì vậy thường cần đặt nội khí quản và bảo vệ đường thở.
THÔNG KHÍ CƠ HỌC
Chỉ định
| Chỉ định thông khí cơ học cho bệnh nhân dùng thuốc quá liều |
|---|
|
Cài đặt máy thở
| Cài đặt máy thở ban đầu cho bệnh nhân dùng quá liều thuốc | |
|---|---|
| Cài đặt | Khuyến cáo |
| Chế độ | Hỗ trợ / kiểm soát (CMV) |
| Tần số | 15 - 20 lần / phút |
| Kiểm soát thể tích / áp lực | Thể tích hoặc áp lực |
| Thể tích khí lưu thông (vt) | 6 - 8 mL/kg PBW |
| Thời gian hít vào | 1 giây |
| PEEP | 5 cmH 2 O để duy trì FRC |
| FiO 2 | ≤ 40% thường là đủ; hiệu chỉnh để PaO
2
ở mức 55 - 80 mmHg và SpO
2
ở mức 88 - 95%
|
| Áp lực đường thở | Mức thấp nhất là cần thiết để duy trì trao đổi khí |
| Áp lực cao nguyên (Pplat) | < 28 cmH 2 O |
| Áp lực đẩy (∆P) | < 15 cmH 2 O |
- Bệnh nhân dùng thuốc quá liều thường không khó thở, trừ phi có xảy ra hít sặc. Đặc điểm thường gặp là bệnh nhân tương đối trẻ và khỏe mạnh, không có bệnh phổi tiềm ẩn.
- Chế độ thông khí được lựa chọn là thông khí bắt buộc liên tục (CMV) (hỗ trợ / kiểm soát) kèm thông khí kiểm soát áp lực hoặc kiểm soát thể tích.
- Bất kỳ chế độ nào có tần số thở dự phòng đều có thể chấp nhận.
- Dù phổi về mặt thực thể có thể bình thường, vẫn cần thiết lập áp lực đường thở và Vt theo chiến lược bảo vệ phổi. Do đó, Vt 6 - 8 mL/kg PBW phù hợp với tần số 15 - 20 lần / phút, tùy thuộc vào PaCO 2 .
- Nếu chọn thông khí kiểm soát thể tích, thời gian hít vào 1 giây là phù hợp. Với thông khí kiểm soát áp lực, cần cài đặt mức kiểm soát áp lực sao cho cung cấp Vt mong muốn từ 6 - 8 mL/kg với thời gian hít vào là 1 giây.
- Cần duy trì áp lực cao nguyên Pplat < 28 cmH 2 O và áp lực đẩy (∆P = Pplat - PEEP) < 15 cmH 2 O.
- Do oxy hóa hiếm khi là vấn đề đáng lo ngại nếu không có hít sặc, nên FiO 2 bằng hoặc thấp hơn 40% thường đủ để giữ PaO 2 ở mức chấp nhận được (55 - 80 mmHg) và SpO 2 ở mức 88 - 95%.
- Nên sử dụng PEEP ở mức 5 cmH 2 O để duy trì dung tích cặn chức năng (FRC), miễn là chức năng tim mạch ổn định và việc bổ sung PEEP không gây ảnh hưởng xấu đến cung lượng tim. Vì nhiều thuốc uống vào có thể gây giãn mạch ngoại biên, cần đặc biệt chú ý đến tình trạng huyết động và áp lực đường thở.
Điều chỉnh thông số
Theo dõi
| Theo dõi tình trạng thở máy ở bệnh nhân dùng thuốc quá liều |
|---|
|
- Trào ngược và hít sặc là hai mối lo ngại hàng đầu ở bệnh nhân dùng thuốc quá liều. Cần đặc biệt thận trọng cho đến khi bệnh nhân đủ điều kiện để rút ống nội khí quản (NKQ).
- Bóng chèn của ống NKQ phải được bơm đầy đủ.
- Ổn định huyết động cũng là vấn đề quan trọng ở nhiều bệnh nhân dùng thuốc quá liều, vì có thể xuất hiện rối loạn nhịp tim. Do đó, ECG và huyết áp động mạch hệ thống cần được theo dõi.
- Vì bệnh phổi tiềm ẩn thường không phải là vấn đề chính, khí máu động mạch không cần kiểm tra thường xuyên. Tuy nhiên, việc đánh giá định kỳ cân bằng toan - kiềm có thể cần thiết đối với một số thuốc (ví dụ: Salicylates). Trong một số tình huống, kiềm hóa máu có thể được chỉ định nhằm tạo điều kiện cho quá trình thanh thải thuốc.
- Do thở máy được chỉ định cho suy hô hấp, cần theo dõi sát mức độ ý thức và mức độ đồng bộ giữa bệnh nhân - máy thở. Nhiều bệnh nhân có thể kích động và chống máy khi mức độ ức chế thần kinh giảm dần.
Ngưng thở máy
- Ngừng hỗ trợ thông khí khi thuốc đã được thanh thải đủ để cho phép thông khí tự phát.
- Khi bệnh nhân đã tỉnh táo và không còn lo ngại về nguy cơ tái ức chế thần kinh, đây là thời điểm có thể ngưng thở máy.
- Đáng lo ngại trong tình huống bệnh nhân dùng quá liều thuốc an thần, vốn là nhóm thuốc có khả năng hòa tan lipid cao và được hấp thu/đưa vào hệ thống tuần hoàn một cách từ từ. Ở nhóm bệnh nhân này, có thể quan sát thấy dao động giữa các giai đoạn thức tỉnh và an thần. Việc ngưng thở máy sớm trong trường hợp như vậy có thể gây hậu quả nghiêm trọng.
NỘI DUNG CẦN NHỚ
- Nhiều loại thuốc có thể gây ức chế hô hấp nếu uống đủ số lượng.
- Ở một số bệnh nhân, bảo vệ đường thở có thể là vấn đề quan trọng hơn so với yêu cầu thông khí.
- Oxy hóa hiếm khi trở thành mối lo ngại, ngoại trừ khi bệnh nhân bị hít sặc.
- Mặc dù bệnh nhân không có bệnh phổi, vẫn nên áp dụng thể tích khí lưu thông bảo vệ phổi Vt từ 6 - 8 ml/kg PBW và sử dụng áp lực đường thở thấp nhất có thể.
- PEEP 5 cmH 2 O được sử dụng, nhưng có khả năng gây mất ổn định huyết động.
- Cần theo dõi hít sặc, ổn định huyết động và rối loạn nhịp tim.
- Cần bơm phồng đầy đủ bóng chèn của ống nội khí quản khi có nguy cơ trào ngược.
- Ngừng hỗ trợ thông khí khi chức năng thần kinh đã trở lại bình thường.
- Một số loại thuốc có thể gây ra dao động giữa khoảng thời gian thức và an thần.
Tài liệu tham khảo
- Thở máy cho bệnh nhân dùng thuốc quá liều. Các nguyên lý căn bản của thông khí cơ học. DEAN R.HESS, ROBERT R.KACMAREK. Đặng Thanh Tuấn (dịch)