Áp xe vú

Post key: a3c28029-d503-5103-b5d8-2e43bd890dff
Slug: áp-xe-vu
Excerpt: Áp xe vú thường là biến chứng của viêm ống dẫn sữa không được điều trị triệt để, hay gặp sau sinh khi đang cho con bú (khoảng 2–3%). Lâm sàng điển hình: sốt cao kèm rét run; vú sưng nóng đỏ đau; khi nắn có thể sờ thấy khối mềm/ổ tụ dịch, đôi khi có điểm ấn lõm; hạch nách đau. Có thể vắt sữa ra và thấy mảnh vàng nhạt (gợi ý có mủ). Cận lâm sàng: siêu âm thấy nhiều ổ chứa dịch; CTM bạch cầu trung tính tăng, CRP dương tính. Chọc dò lấy mủ và cấy vi khuẩn làm kháng sinh đồ. Chẩn đoán phân biệt: tuyến vú phụ (có thể tương tự khi xuất hiện nhiều nốt theo đường nách) và ung thư vú (khi nghi ngờ cần khám chuyên khoa, có thể sinh thiết tế bào học). Điều trị: nghỉ ngơi; không cho bú bên tổn thương, vắt bỏ sữa. Kháng sinh theo phác đồ (ví dụ Rovamyxin 500 mg x 2 lần/ngày trong 15 ngày, phối hợp thuốc chống viêm) và cân nhắc thuốc diệt nấm cho mẹ và con. Giảm đau bằng paracetamol. Vật lý trị liệu (xoa bóp, chườm nóng) hỗ trợ giai đoạn phù hợp. Khi có ổ áp xe: chích rạch và dẫn lưu, phá vỡ các ổ mủ; đường rạch theo hình nan hoa, tránh tổn thương quầng vú và ống dẫn sữa, đủ rộng để dẫn lưu; rửa vết chích bằng oxy già, sát khuẩn betadin, đặt meche dẫn lưu, thay băng hằng ngày đến khi hết mủ. Có thể khuyến khích tiếp tục cho con bú ở bên không tổn thương; cân nhắc tiếp tục cho bú ngay trong khi vẫn có ổ mủ theo đánh giá tại chỗ. Tiên lượng: có thể gây dò sữa do tổn thương ống dẫn sữa; tắc tia sữa dẫn đến giảm/hết sữa. Biến chứng xa: loét vú/đầu vú, áp xe tồn dư hoặc tái phát, viêm xơ tuyến vú, ung thư vú. Dự phòng: cho bú sớm, bú đúng và hết sữa cả hai bên; nếu căng đau do ứ sữa cần hỗ trợ trước khi bú (gạc ấm, xoa cổ/lưng, nặn bớt sữa, làm trẻ bú dễ hơn), chườm lạnh giữa các cữ; vệ sinh và điều trị sớm viêm ống dẫn sữa để tránh tiến triển thành áp xe.
Recognized tags: chan-doan, dieu-tri, thu-thuat, du-phong, bo-y-te, khang-sinh, hinh-anh, xet-nghiem

GIỚI THIỆU

Áp xe vú là biến chứng nặng nề nhất, hệ quả của viêm ống dẫn sữa khi không được điều trị triệt để. Tắc tia sữa và tình trạng viêm hóa mủ dẫn tới sự hình thành các ổ mủ tại mô vú. Bệnh thường gặp sau đẻ và trong thời kỳ đang cho con bú (tỷ lệ khoảng 2-3%).

CHẨN ĐOÁN

  • Sốt cao 40 độ, kèm rét run.
  • Vú sưng, nóng, đỏ, đau; khi nắn có thể nhận thấy các nhân mềm và cảm giác có ổ chứa dịch kèm ấn lõm.
  • Hạch nách ấn đau. Khi vắt sữa lên miếng bông thấy có mảnh nhỏ màu vàng nhạt (có mủ trong sữa).
  • Siêu âm: nhiều ổ chứa dịch. CTM: bạch cầu trung tính tăng. CRP dương tính.
  • Chọc dò: lấy được mủ; cấy vi khuẩn để làm kháng sinh đồ.
Chẩn đoán phân biệt:
  • Tuyến vú phụ: có thể có biểu hiện tương tự khi xuất hiện nhiều nốt theo đường nách trước.
  • Ung thư vú: khi nghi ngờ cần khám chuyên khoa và làm sinh thiết tế bào học.

ĐIỀU TRỊ

  • Nghỉ ngơi; không cho bú bên tổn thương, đồng thời vắt bỏ sữa.
  • Kháng sinh: Rovamyxin 500mg x 2v / ngày trong 15 ngày, phối hợp các thuốc chống viêm. Cân nhắc/cho dùng thuốc diệt nấm cho cả mẹ và con.
  • Giảm đau bằng paracetamol 500mg/lần; tối đa 3g trong 24g.
  • Vật lý trị liệu: xoa bóp, chườm nóng.
  • Khi có ổ áp xe: chích rạch và dẫn lưu, chú ý phá vỡ các ổ mủ. Đường rạch theo hình nan hoa, tránh chạm vào quầng vú, không tổn thương ống dẫn sữa, đủ rộng để dẫn lưu mủ; rửa vết chích bằng oxy già, sát khuẩn betadin, đặt meche dẫn lưu và thay băng hằng ngày cho đến khi hết mủ.
  • Khuyến khích mẹ tiếp tục cho con bú ngay trong khi vẫn có ổ mủ.

TIẾN TRIỂN VÀ TIÊN LƯỢNG

  • Dò sữa: do tổn thương ống dẫn sữa. Có thể chăm sóc tại chỗ để tự liền và cai sữa.
  • Hết sữa do tắc tia sữa; khi đó không cho con bú.
  • Loét vú, đầu vú: để hở vú, tiếp xúc với ánh nắng mặt trời; vệ sinh và bôi các mỡ có chứa vitamin A, E. Bôi dung dịch eosin 1%, glyxerin borat.
  • Ổ áp xe tồn dư hoặc tái phát.
  • Viêm xơ tuyến vú và ung thư vú.

DỰ PHÒNG

  • Cho bú sớm và cho bú hết sữa cả 2 vú; nếu không hết thì phải hút hết sữa để tránh đọng sữa và kích thích tạo sữa mới.
  • Phương pháp làm bớt căng đau vú: dùng gạc ấm áp lên vú trước khi cho bú; xoa bóp cổ và lưng người mẹ. Người mẹ nặn ít sữa trước khi cho bú và làm ướt đầu vú để giúp trẻ bú dễ dàng hơn. Sau khi cho bú phải nâng đỡ vú bằng một băng ngực, dùng gạc lạnh áp lên vú giữa những lần cho bú và dùng thuốc giảm đau nếu cần thiết.
  • Cai sữa: giảm dần cho bú, uống ít nước, mặc áo con chặt.
  • Thuốc giảm đau (Paracetamon 4v/ ngày trong 3 ngày), Parlodel 2,5mg 2v/ ngày tối thiểu 5 ngày, tối đa 20 ngày; Estradiol 2mg 2v/ngày x 3 ngày.

Tài liệu tham khảo

  1. Quyết định số 315/QĐ-BYT ngày 29/01/2015 của Bộ Y tế ban hành tài liệu chuyên môn: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh sản phụ khoa