GIỚI THIỆU
Hướng dẫn cập nhật về xử trí nhiễm trùng huyết ở người trưởng thành do Chiến dịch sinh tồn trong nhiễm trùng huyết (Surviving Sepsis Campaign – SSC) công bố vào tháng 10 năm 2021. Tài liệu nhấn mạnh hơn vào việc cải thiện chất lượng chăm sóc trong toàn bộ hành trình điều trị, đặc biệt sau khi bệnh nhân xuất viện khỏi đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU), đồng thời đề cập quản lý các biến chứng lâu dài. Bên cạnh đó, hướng dẫn thể hiện mức độ đa dạng về địa lý và giới tính cao hơn so với các phiên bản trước.
- Các khuyến cáo mới tập trung giải quyết các khó khăn phát sinh trong thực hành liên quan đến việc điều trị cho người bệnh chịu ảnh hưởng kéo dài của nhiễm trùng huyết. Trên lâm sàng, người bệnh thường phải nằm ICU trong thời gian kéo dài trước khi đối diện với một giai đoạn hồi phục dài và phức tạp. Ngoài những thách thức về phục hồi thể chất, bệnh nhân và gia đình thường thiếu thông tin để phối hợp chăm sóc nhằm hỗ trợ hồi phục, đồng thời đảm bảo phù hợp với mục tiêu chăm sóc của họ.
- Nhằm giải quyết các vấn đề nêu trên, hướng dẫn khuyến nghị nên đưa người bệnh và gia đình tham gia vào các cuộc thảo luận về mục tiêu chăm sóc và kế hoạch xuất viện; trong đó cần bao gồm việc theo dõi sớm và liên tục bởi bác sĩ lâm sàng để hỗ trợ, quản lý các tác động lâu dài và đánh giá tình trạng thể chất, nhận thức cũng như các vấn đề cảm xúc sau khi xuất viện.
- Recommend: khuyến cáo
- Suggest: đề nghị
KHUYẾN CÁO
Sàng lọc
Đối với các bệnh viện và hệ thống y tế, chúng tôi khuyến cáo sử dụng chương trình cải thiện hiệu suất đối với nhiễm trùng huyết, gồm sàng lọc nhiễm trùng huyết cho những bệnh nhân có bệnh nặng, nguy cơ cao và có quy trình vận hành tiêu chuẩn để điều trị.
S
M
Chất lượng bằng chứng: Trung bình(M) đối với sàng lọc và rất thấp(VL) đối với quy trình vận hành tiêu chuẩn.
Khuyến cáo mạnh(
Strong
), chất lượng bằng chứng trung bình(
Moderate
)
Chúng tôi khuyến cáo không nên dùng qSOFA thay cho SIRS, NEWS hoặc MEWS như một công cụ sàng lọc đơn lẻ đối với nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng.
S
M
Đối với người lớn nghi ngờ nhiễm trùng huyết, chúng tôi đề nghị đo lactate máu.
W
L
Hồi sức ban đầu
Nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng là cấp cứu y tế; vì vậy chúng tôi khuyến cáo bắt đầu điều trị và hồi sức ngay lập tức.
BP
N
Đối với người bệnh có giảm tưới máu hoặc sốc nhiễm trùng do nhiễm trùng huyết, chúng tôi đề nghị truyền ít nhất 30 mL/kg dịch tinh thể IV trong vòng 3 giờ đầu tiên khi hồi sức.
W
L
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị sử dụng các biện pháp đo lường động để định hướng hồi sức dịch thay vì chỉ dựa trên thăm khám lâm sàng hoặc các thông số tĩnh.
W
VL
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị hướng dẫn hồi sức nhằm giảm lactate huyết thanh ở các bệnh nhân có nồng độ lactate tăng cao, thay vì không sử dụng lactate huyết thanh.
W
L
Đối với người lớn bị sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị dùng thời gian đổ đầy mao mạch để định hướng hồi sức như một biện pháp hỗ trợ cho các biện pháp đo lường tưới máu khác.
W
L
Nhiễm trùng
Đối với người lớn nghi ngờ nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng nhưng nhiễm trùng chưa được xác nhận, chúng tôi khuyến cáo đánh giá lại liên tục và tìm kiếm chẩn đoán thay thế; đồng thời ngừng dùng thuốc kháng sinh theo kinh nghiệm nếu nguyên nhân gây bệnh thay thế được chứng minh hoặc nghi ngờ nhiều.
BP
N
Đối với người lớn có thể bị sốc nhiễm trùng hoặc có nguy cơ cao nhiễm trùng huyết, chúng tôi khuyến cáo dùng kháng sinh ngay lập tức, lý tưởng nhất là trong vòng 1 giờ sau khi nhận biết.
S
L
Đối với người lớn có thể nhiễm trùng huyết nhưng không bị sốc, chúng tôi khuyến cáo đánh giá nhanh khả năng tồn tại các nguyên nhân nhiễm trùng và không nhiễm trùng của bệnh cấp tính.
BP
N
Đối với người lớn có thể bị nhiễm trùng huyết nhưng không có sốc, chúng tôi đề nghị thực hiện một đợt thăm dò nhanh giới hạn về thời gian; nếu vẫn còn lo ngại về nhiễm trùng, hãy sử dụng thuốc kháng vi trùng(antimicrobials) trong vòng 3 giờ kể từ thời điểm nhiễm trùng huyết được nhận biết lần đầu tiên.
W
VL
Đối với người lớn có khả năng thấp nhiễm trùng và không bị sốc, chúng tôi đề nghị trì hoãn sử dụng các thuốc kháng vi trùng(antimicrobials) trong khi tiếp tục theo dõi chặt chẽ bệnh nhân.
W
VL
Đối với người lớn bị nghi ngờ nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị không sử dụng procalcitonin kết hợp với đánh giá lâm sàng để quyết định thời điểm bắt đầu dùng thuốc kháng vi trùng, so với chỉ đánh giá lâm sàng.
W
VL
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng có nguy cơ nhiễm MRSA cao, chúng tôi khuyến cáo sử dụng thuốc kháng vi trùng theo kinh nghiệm có bao phủ MRSA thay vì dùng thuốc kháng vi trùng không bao phủ MRSA.
BP
N
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng có nguy cơ thấp nhiễm MRSA, chúng tôi đề nghị không sử dụng thuốc kháng vi trùng theo kinh nghiệm có bao phủ MRSA, so với sử dụng thuốc kháng vi trùng không bao phủ MRSA.
W
L
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và có nguy cơ thấp nhiễm vi sinh vật đa kháng thuốc (MDR), chúng tôi đề nghị không dùng 2 thuốc kháng gram âm để điều trị theo kinh nghiệm, thay vì 1 thuốc kháng gram âm.
W
VL
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và có nguy cơ cao nhiễm vi sinh vật đa kháng thuốc (MDR), chúng tôi đề nghị sử dụng 2 loại thuốc kháng vi trùng có khả năng bao phủ vi khuẩn gram âm để điều trị theo kinh nghiệm hơn là chỉ 1 thuốc kháng gram âm.
W
VL
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị không sử dụng phạm vi bao phủ gấp đôi(2 thuốc) đối với gram âm trong cùng một lần khi đã biết mầm bệnh gây bệnh và độ nhạy(kháng sinh đồ).
W
VL
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng có nguy cơ cao nhiễm nấm, chúng tôi đề nghị sử dụng liệu pháp kháng nấm theo kinh nghiệm thay vì không dùng liệu pháp kháng nấm.
W
L
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng có nguy cơ thấp nhiễm nấm, chúng tôi đề nghị không sử dụng liệu pháp kháng nấm theo kinh nghiệm.
W
L
Chúng tôi không đưa ra khuyến cáo nào về việc sử dụng thuốc kháng vi-rút.
N
N
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị truyền beta-lactam kéo dài để duy trì (sau liều bolus ban đầu) thay vì truyền bolus thông thường.
W
M
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo tối ưu hóa chiến lược liều thuốc kháng vi trùng dựa trên các nguyên tắc dược động học(PK)/dược lực học(PD) đã được chấp nhận và các đặc tính cụ thể của thuốc.
BP
N
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo loại bỏ nhanh chóng các thiết bị tiếp cận(access) nội mạch có khả năng là nguồn gây nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng sau khi đã thiết lập được đường truyền vào mạch máu khác.
BP
N
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị đánh giá hằng ngày nhu cầu xuống thang của thuốc kháng vi trùng thay vì áp dụng khoảng thời gian điều trị cố định mà không xem xét hằng ngày việc xuống thang.
W
VL
Đối với người lớn được chẩn đoán ban đầu là nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và kiểm soát nguồn lây nhiễm đầy đủ, chúng tôi đề nghị thời gian liệu pháp kháng vi trùng ngắn hơn thay vì kéo dài hơn.
W
VL
Đối với người lớn được chẩn đoán ban đầu là nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và kiểm soát nguồn lây nhiễm đầy đủ nhưng thời gian điều trị tối ưu chưa rõ ràng, chúng tôi đề nghị sử dụng procalcitonin VÀ đánh giá lâm sàng để quyết định thời điểm ngừng thuốc kháng vi trùng, thay vì chỉ dựa vào đánh giá lâm sàng.
W
L
Huyết áp động mạch trung bình
Đối với người lớn bị sốc nhiễm trùng khi đang dùng thuốc vận mạch, chúng tôi khuyến cáo mục tiêu huyết áp động mạch trung bình(MAP) ban đầu là 65 mmHg thay vì theo đuổi mục tiêu MAP cao hơn.
S
M
Quản lý huyết động
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo sử dụng dịch tinh thể làm dịch truyền đầu tay(first-line) cho hồi sức.
S
M
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị sử dụng dịch tinh thể cân bằng thay vì nước muối thông thường để hồi sức.
W
VL
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị sử dụng albumin ở các bệnh nhân đã nhận một lượng lớn dịch tinh thể.
W
M
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo không dùng dịch keo(Starches) để hồi sức.
S
H
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị không dùng gelatin để hồi sức.
W
M
Đối với người lớn bị sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo dùng norepinephrine làm thuốc đầu tay thay vì các thuốc vận mạch khác.
Thay vì Dopamine
Thay vì Dopamine
S
H
sử dụng đầu tay với Noradrenalin(Norepinephrine) thay vì dùng:
Khuyến cáo yếu(
Weak
), chất lượng bằng chứng trung bình(
Moderate
)
- Dopamine: Cao (H)
- Vasopressin: Trung bình (M)
- Epinephrine: Thấp (L)
- Selepressin: Thấp (L)
- Angiotensin 2:: Rất Thấp (VL)
Đối với người lớn bị sốc nhiễm trùng khi dùng norepinephrine mà mức huyết áp động mạch trung bình(MAP) chưa đủ, chúng tôi đề nghị bổ sung vasopressin thay vì tăng liều norepinephrine.
W
M
Đối với người lớn bị sốc nhiễm trùng và mức huyết áp động mạch trung bình(MAP) chưa đủ mặc dù đã dùng norepinephrine và vasopressin, chúng tôi đề nghị bổ sung thêm epinephrine.
W
L
Đối với người lớn bị sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị không dùng terlipressin.
W
L
Đối với người lớn bị sốc nhiễm trùng kèm rối loạn chức năng tim với tình trạng giảm tưới máu dai dẳng mặc dù đã đảm bảo tình trạng thể tích và huyết áp động mạch đầy đủ, chúng tôi đề nghị thêm dobutamine vào norepinephrine hoặc chỉ dùng epinephrine.
W
L
Đối với người lớn bị sốc nhiễm trùng và rối loạn chức năng tim kèm tình trạng giảm tưới máu dai dẳng mặc dù đã đảm bảo tình trạng thể tích và huyết áp động mạch đầy đủ, chúng tôi đề nghị không dùng levosimendan.
W
L
Đối với người lớn bị sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị theo dõi huyết áp động mạch xâm lấn thay vì theo dõi không xâm lấn, ngay khi điều kiện cho phép và nếu có sẵn nguồn lực.
W
VL
Đối với người lớn bị sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị khởi đầu thuốc vận mạch qua đường truyền ngoại vi để khôi phục huyết áp động mạch trung bình(MAP) thay vì trì hoãn cho đến khi bảo đảm được đường truyền tĩnh mạch trung tâm.
W
VL
Không đủ bằng chứng để đưa ra khuyến nghị về chiến lược truyền dịch hạn chế so với truyền dịch tự do trong 24 giờ đầu hồi sức ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng, là nhóm vẫn còn dấu hiệu giảm tưới máu và suy giảm thể tích sau hồi sức ban đầu.
N
N
Các liệu pháp bổ sung
Đối với người lớn bị sốc nhiễm trùng và đang cần điều trị bằng thuốc vận mạch, chúng tôi đề nghị sử dụng corticosteroid đường tĩnh mạch.
W
M
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị không sử dụng phương pháp lọc máu hấp phụ bằng màng lọc polymyxin B.
W
L
Không có đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo về việc sử dụng các kỹ thuật lọc máu khác.
N
N
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo sử dụng chiến lược truyền máu hạn chế thay vì truyền máu tự do.
S
M
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị không sử dụng globulin miễn dịch qua đường tĩnh mạch.
W
L
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và có yếu tố nguy cơ xuất huyết tiêu hóa, chúng tôi đề nghị dùng phương pháp dự phòng loét do căng thẳng(stress).
W
M
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo dùng thuốc dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trừ khi có chống chỉ định với liệu pháp đó.
S
M
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo sử dụng heparin trọng lượng phân tử thấp(LMW).
S
M
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị không bổ sung biện pháp dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch bằng cơ học vào việc dự phòng bằng thuốc, thay vì chỉ dùng dự phòng bằng thuốc.
W
L
Ở người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và tổn thương thận cấp(AKI), chúng tôi đề nghị sử dụng liệu pháp thay thế thận liên tục(CRRT) hoặc ngắt quãng(IRRT).
W
L
Ở người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và tổn thương thận cấp(AKI) không có chỉ định rõ ràng cho liệu pháp thay thế thận(RRT), chúng tôi đề nghị không sử dụng liệu pháp thay thế thận(RRT).
W
M
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo bắt đầu điều trị bằng insulin khi nồng độ glucose ≥ 180mg/dL (10mmol/L).
S
M
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị không sử dụng vitamin C qua đường tĩnh mạch.
W
L
Đối với người lớn bị sốc nhiễm trùng và nhiễm toan lactic máu do giảm tưới máu, chúng tôi đề nghị không sử dụng liệu pháp natri bicarbonate nhằm cải thiện huyết động hoặc làm giảm nhu cầu thuốc vận mạch.
W
L
Đối với người lớn bị sốc nhiễm trùng và nhiễm toan chuyển hóa nặng (pH ≤ 7,2) và tổn thương thận cấp (
điểm AKIN
2 hoặc 3), chúng tôi đề nghị sử dụng liệu pháp natri bicarbonate.
W
L
Đối với những bệnh nhân người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và có thể được cho ăn qua đường ruột, chúng tôi đề nghị bắt đầu nuôi dưỡng qua đường ruột sớm (trong vòng 72 giờ).
W
VL
Thở máy
Không đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo về việc sử dụng mục tiêu oxy bảo tồn(conservative oxygen) ở người lớn bị suy hô hấp thiếu oxy máu do nhiễm trùng huyết.
N
N
Đối với người lớn bị suy hô hấp thiếu oxy do nhiễm trùng huyết, chúng tôi đề nghị sử dụng oxy mũi lưu lượng cao(HFNO) thay vì thông khí không xâm lấn(NIV).
W
L
Không có đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo về việc sử dụng thông khí không xâm lấn(NIV) so với thông khí xâm lấn cho người lớn bị suy hô hấp thiếu oxy do nhiễm trùng huyết.
N
N
Đối với người lớn mắc ARDS do nhiễm trùng huyết, chúng tôi khuyến cáo sử dụng chiến lược thông khí với thể tích khí lưu thông thấp (6 mL/kg) thay vì chiến lược thông khí với thể tích khí lưu thông cao (> 10 mL/kg).
Tính theo cân nặng lý tưởng.
Xem thêm:
Tính thể tích khí lưu thông (Vt) cho bệnh nhân thở máy dựa theo IBW (cân nặng lý tưởng) hoặc PBW (cân nặng dự đoán)
S
H
Đối với người lớn mắc ARDS nặng do nhiễm trùng huyết, chúng tôi khuyến cáo dùng mục tiêu giới hạn trên cho áp lực cao nguyên(Pplat) là 30 cmH
2
O, thay vì áp lực cao nguyên(Pplat) cao hơn.
S
M
Đối với người lớn mắc ARDS do nhiễm trùng huyết từ trung bình đến nặng, chúng tôi đề nghị sử dụng PEEP cao hơn thay vì PEEP thấp hơn.
W
M
Đối với người lớn bị suy hô hấp do nhiễm trùng huyết (không có ARDS), chúng tôi đề nghị dùng thể tích khí lưu thông thấp so với thông khí thể tích khí lưu thông cao.
W
L
Đối với người lớn mắc ARDS nặng do nhiễm trùng huyết, chúng tôi đề nghị sử dụng các thủ thuật huy động truyền thống.
W
M
Khi sử dụng các thủ thuật huy động phế nang, chúng tôi khuyến cáo không nên dùng chiến lược/chuẩn độ PEEP tăng dần.
S
M
Đối với người lớn mắc ARDS từ trung bình đến nặng do nhiễm trùng huyết, chúng tôi khuyến cáo sử dụng thông khí nằm sấp trong hơn 12 giờ mỗi ngày.
S
M
Đối với người lớn mắc ARDS từ trung bình đến nặng do nhiễm trùng huyết, chúng tôi đề nghị dùng thuốc chẹn thần kinh cơ(NMBA) bolus ngắt quãng thay vì truyền liên tục NMBA.
W
M
Đối với người lớn mắc ARDS nặng do nhiễm trùng huyết, chúng tôi đề nghị sử dụng ECMO tĩnh mạch-tĩnh mạch khi thở máy thông thường thất bại ở các trung tâm có kinh nghiệm với cơ sở hạ tầng sẵn có để hỗ trợ cho việc sử dụng.
W
L
Nhập viện và đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU)
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng cần nhập viện ICU, chúng tôi đề nghị tiếp nhận bệnh nhân vào ICU trong vòng 6 giờ.
W
L
Mục tiêu chăm sóc (GOC) và kết cục lâu lài (LTO)
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo thảo luận về mục tiêu chăm sóc và tiên lượng bệnh với bệnh nhân và gia đình, thay vì không tiến hành thảo luận.
BP
N
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị giải quyết các mục tiêu chăm sóc sớm(trong vòng 72 giờ) thay vì muộn(72 giờ hoặc muộn hơn).
W
L
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, không có đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo về bất kỳ tiêu chí tiêu chuẩn hóa cụ thể nào nhằm kích hoạt cuộc thảo luận về mục tiêu chăm sóc.
N
N
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo tích hợp các nguyên tắc chăm sóc giảm nhẹ (có thể bao gồm tư vấn chăm sóc giảm nhẹ dựa trên đánh giá của bác sĩ lâm sàng) vào kế hoạch điều trị, khi thích hợp, nhằm giải quyết các triệu chứng và sự đau khổ của bệnh nhân và gia đình.
BP
N
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị không tư vấn chăm sóc giảm nhẹ chính thức thường quy cho tất cả bệnh nhân, thay vì áp dụng tư vấn chăm sóc giảm nhẹ dựa trên đánh giá của bác sĩ lâm sàng.
W
L
Đối với các trường hợp người trưởng thành sống sót sau nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và gia đình họ, chúng tôi đề nghị giới thiệu đến các nhóm hỗ trợ đồng đẳng(cùng tình trạng) thay vì không thực hiện giới thiệu.
W
L
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị sử dụng quy trình chuyển giao thông tin quan trọng đặc biệt khi chuyển tiếp chăm sóc thay vì không có quy trình chuyển giao như vậy.
W
VL
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, không có đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo về việc sử dụng bất kỳ công cụ chuyển giao có cấu trúc cụ thể nào thay vì các quy trình chuyển giao thông thường.
N
N
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và gia đình họ, chúng tôi khuyến cáo sàng lọc nhằm hỗ trợ kinh tế và xã hội (bao gồm hỗ trợ nhà ở, dinh dưỡng, tài chính và tinh thần) và, nếu có thể, giới thiệu để đáp ứng các nhu cầu này.
BP
N
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và gia đình họ, chúng tôi đề nghị cung cấp giáo dục bằng văn bản và bằng lời nói về nhiễm trùng huyết (chẩn đoán, điều trị và hội chứng sau ICU/sau nhiễm trùng huyết) trước khi xuất viện và trong bối cảnh theo dõi sát.
W
VL
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và gia đình họ, chúng tôi khuyến cáo nhóm lâm sàng(CLINICAL TEAM) tạo điều kiện cho người bệnh tham gia vào quyết định chung trong lập kế hoạch sau ICU và xuất viện, nhằm bảo đảm kế hoạch xuất viện có thể chấp nhận được và khả thi.
BP
N
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng và gia đình họ, chúng tôi đề nghị dùng chương trình chuyển tiếp chăm sóc tích cực, so với chăm sóc thông thường, khi chuyển đến phòng bệnh(ngoài ICU).
W
VL
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo điều chỉnh hài hòa thuốc tại cả giai đoạn ICU và giai đoạn xuất viện.
BP
N
Đối với những người lớn sống sót sau nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng và gia đình họ, chúng tôi khuyến cáo đưa thông tin về thời gian nằm ICU, nhiễm trùng huyết và các chẩn đoán, phương pháp điều trị liên quan cũng như các suy giảm phổ biến sau nhiễm trùng huyết vào bản tóm tắt xuất viện, bằng văn bản và bằng lời nói.
BP
N
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng đã phát triển các suy yếu mới, chúng tôi khuyến cáo kế hoạch xuất viện cần bao gồm việc theo dõi với các bác sĩ lâm sàng có khả năng hỗ trợ và quản lý các di chứng mới và lâu dài.
BP
N
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và gia đình họ, không có đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo về theo dõi sớm sau xuất viện so với theo dõi định kỳ sau xuất viện.
N
N
Đối với người lớn bị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, không có đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo ủng hộ hoặc phản đối đối với liệu pháp nhận thức sớm.
N
N
Đối với các trường hợp người lớn sống sót sau nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo đánh giá và theo dõi các vấn đề về thể chất, nhận thức và cảm xúc sau khi xuất viện.
BP
N
Đối với người lớn sống sót sau nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị giới thiệu đến chương trình theo dõi bệnh sau hồi sức nếu có.
W
N
Đối với người lớn sống sót sau nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng đã thở máy trong hơn 48 giờ hoặc nằm ICU hơn 72 giờ, chúng tôi đề nghị giới thiệu đến chương trình phục hồi chức năng sau nhập viện.
W
N
HƯỚNG DẪN
Mức độ khuyến nghị và mức độ tin cậy của bằng chứng
| Mức độ khuyến nghị | |
|---|---|
| Ký hiệu | Mô tả |
| S (Strong) | Mạnh |
| W (Weak) | Yếu |
| BP (Best Practice) | Thực hành tốt |
| N (No recommendation) | Không khuyến cáo |
| Chất lượng bằng chứng | |
| Ký hiệu | Mô tả |
| H (High) | Cao |
| M (Moderate) | Trung bình |
| L (Low) | Thấp |
| VL (Very Low) | Rất thấp |
| N (No evidence) | Không ghi nhận bằng chứng |
Tài liệu tham khảo
- Surviving Sepsis Campaign(SSC) Guidelines 2021. SCCM
- Executive Summary: Surviving Sepsis Campaign: International Guidelines for the Management of Sepsis and Septic Shock 2021. CCM
- Surviving Sepsis Campaign 2021 Adult Guidelines. SSC