Nhét mechè mũi sau trong chảy máu mũi bằng Sonde foley

Post key: af9aecc0-a8cc-5acd-b7f7-208d4b4bbf70
Slug: nhet-meche-mui-sau-trong-chay-mau-mui-bang-sonde-foley
Excerpt: Chảy máu mũi là cấp cứu tai mũi họng thường gặp. Trong trường hợp chảy máu nặng (đặc biệt khi nghi ngờ chảy từ mũi sau), có thể nhét mechè mũi sau để bịt kín cửa mũi sau và cầm máu. Bài viết trình bày kỹ thuật nhét mechè mũi sau cải tiến bằng sonde Foley: chuẩn bị dụng cụ (sonde Foley, mechè mũi trước, gạc, Rhinex 0,3% co mạch, mỡ Vaseline, chỉ 2.0), thực hiện cho bệnh nhân nằm ngửa đầu phẳng; bôi Rhinex 0,3% vào dưới cuốn mũi để co cuốn, sau đó đưa sonde Foley đã bôi trơn qua cửa mũi đến thành sau họng, bơm bóng bằng nước cất (5 ml sau đó 4–6 ml) để tạo nút bịt kín, nhét thêm mechè mũi trước và cố định sonde. Theo dõi biến chứng (tụt mechè, vỡ bóng, suy hô hấp do thiếu khí, hoại tử vách ngăn, tổn thương niêm mạc). Thời gian lưu thường 48–72 giờ tùy mức độ; sử dụng kháng sinh dự phòng/điều trị trong thời gian lưu (ví dụ cephalexin hoặc cefixim theo liều được nêu) và rút khi hết chảy máu.
Recognized tags: cap-cuu, thu-thuat, khang-sinh, danh-cho-dieu-duong, dieu-tri

GIỚI THIỆU

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chảy máu mũi trước và chảy máu mũi sau là một cấp cứu tai mũi họng thường gặp ở cả trẻ em và người lớn. Tùy theo vị trí và mức độ chảy máu, có nhiều biện pháp cầm máu khác nhau. Với chảy máu mũi trước mức độ nhẹ, có thể bịt cánh mũi trong 10 phút. Đối với chảy máu điểm mạch Kisselbach, có thể sử dụng miếng cầm máu spon-gel dán lên điểm mạch. Khi chảy máu nhiều tại mũi trước thì nhét mechè mũi trước. Nếu chảy máu mũi trước kèm theo mũi sau nặng thì cần nhét mechè mũi sau để kiểm soát chảy máu.
Tuy nhiên, các phương pháp nhét gạc truyền thống thường gây khó chịu cho bệnh nhân khi ăn uống; do cục gạc có sự ma sát lớn nên dễ làm tổn thương và dẫn đến hoại tử cửa mũi sau thành sau họng, đồng thời thủ thuật lại thực hiện khó khăn, nhiều trường hợp bệnh nhân đau đớn và bất hợp tác.
Nhét mechè mũi sau cải tiến bằng sonde foley được thực hiện một cách nhẹ nhàng, không ảnh hưởng đến sức khỏe bệnh nhân; bệnh nhân dễ chấp nhận và hợp tác hơn. Phương pháp tạo hiệu ứng như một “nệm nước”, nâng đỡ và bịt kín thành sau họng, không cho máu chảy xuống họng. Thủ thuật tương đối đơn giản, không bắt buộc bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng trực tiếp thực hiện; chỉ cần hướng dẫn cho bác sĩ hoặc điều dưỡng một vài lần, có thể tiến hành dễ dàng và đạt thành thạo.
II. MUC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Mục tiêu cụ thể: Cải tiến thủ thuật nhét mechè mũi sau bằng sonde foley.
- Mục tiêu lâu dài: Hướng dẫn cho tất cả các bác sĩ cũng như điều dưỡng có thể thực hiện thủ thuật này thành thạo tại các khoa phòng.
III. TỔNG QUAN VỀ BỆNH LÝ CHẢY MÁU MŨI
- Sinh lý cấu tạo niêm mạc mũi:
Lưới mao mạch dày đặc, nông, đảm nhiệm chức năng làm ấm và làm ẩm không khí trước khi đi vào phổi. Vì vậy, chỉ cần chấn thương nhẹ như ngoáy hoặc va quệt nhẹ vào cánh mũi cũng có thể gây chảy máu mũi. Vào mùa hanh, niêm mạc mũi dễ nứt nẻ, làm tăng nguy cơ chảy máu.
- Chấn thương và bệnh lý gây chảy máu mũi:
Hệ mạch máu nuôi lưới mao mạch mũi gồm: động mạch cảnh ngoài với các nhóm động mạch bướm khẩu cái và động mạch khẩu cái lên; động mạch cảnh trong với các nhóm động mạch sàng trước và động mạch sàng sau. Các nhánh động mạch này quy tụ tại một điểm ở phía trước và dưới vách ngăn, cách cửa mũi trước khoảng 1,5cm, gọi là điểm mạch Kisselbach. Khi có va chạm vào điểm mạch này thường gây chảy máu nặng.
Nguyên nhân chấn thương có thể gồm tai nạn lao động, tai nạn giao thông, bị đánh… Các bệnh lý kèm theo có thể gặp như tăng huyết áp, bạch cầu tủy cấp, suy tủy, bệnh ưa chảy máu, sốt xuất huyết, suy gan, suy thận…
- Nhận biết chảy máu mũi nặng nhẹ:
Chảy máu mũi nặng thường do tổn thương động mạch mũi trong các bệnh cao huyết áp (HA), xơ vữa động mạch, xơ gan… Biểu hiện là máu chảy nhiều thành dòng kéo dài; bệnh nhân trong trạng thái kích thích, hốt hoảng; môi mặt xanh nhợt; mạch nhanh; huyết áp hạ; số lượng máu mất nhiều hơn 200ml, thường gặp ở bệnh nhân lớn tuổi có bệnh mạn tính. Ngoài ra, chấn thương gây tổn thương động mạch sàng thường chảy máu khó cầm. Khi soi mũi thường rất khó xác định điểm chảy vì điểm chảy thường ở trên cao và phía sau, dù lượng máu ra nhiều.
IV. CÁC KỸ THUẬT CẦM MÁU MŨI:
1. Trường hợp chảy máu mũi nhẹ:
Nếu chảy máu mũi nhẹ, máu thường xuất phát từ điểm mạch. Người cấp cứu dùng 2 ngón tay bóp hai cánh mũi lại, giữ chặt tay nhằm ép điểm Kisselbach cầm máu. Sau đó, dùng bông có tẩm dung dịch cầm máu như oxy già 12 thể tích, ephedrin 1-3% nhét vào lỗ mũi, ép đè lên chỗ chảy máu.
2. Trường hợp chảy máu mũi nặng:
Áp dụng phương pháp nhét mechè mũi trước hoặc nhét mechè mũi sau.
Nhét mechè mũi trước:
Gây tê hốc mũi bằng lidocain. Dùng cuộn mechè có bề rộng 1-1,5cm, bề dài 50cm tẩm mỡ kháng sinh vào mũi. Chú ý nhét mechè có hình đáy võng để mechè không bị tụt xuống thành sau họng; nhét chặt từ sau ra trước cho tới khi đầy ra tận cửa mũi trước. Dùng đè lưỡi kiểm tra xem máu có chảy xuống thành sau họng hay không; nếu không thấy chảy xuống là tốt. Thời gian lưu mechè từ 24-48 giờ.
Trong trường hợp chảy máu nhiều do chấn thương, tăng huyết áp… nếu nhét mechè mũi trước mà chưa cầm máu thì phải chuyển sang nhét mechè mũi sau. Cách nhét mechè mũi sau: Dùng cục gạc bịt kín cửa mũi sau để ngăn không cho máu chảy xuống thành sau họng. Đường kính cục gạc khoảng 2-2,5cm, có buộc dây ở giữa, mỗi đầu dài khoảng 30cm. Sau khi bịt kín được cửa mũi sau phải tiếp tục nhét mechè mũi trước; lưu mechè mũi sau từ 48–72 giờ. Trong thời gian này cần điều trị kháng sinh để chống nhiễm khuẩn.
V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1. Nguyên lý dụng cụ:
Theo nguyên lý cầm máu mũi trước và mũi sau đối với các trường hợp chảy máu nặng, chỉ cần bịt cửa mũi sau và mũi trước là có thể kiểm soát chảy máu. Trước tiên đặt một miếng tăm bông có tẩm dung dịch Rhinex 0,3% vào dưới cuốn mũi để co cuốn mũi dưới. Sau đó sử dụng một ống sonde foley phù hợp tùy theo kích cỡ cửa mũi của bệnh nhân, đảm bảo nhỏ hơn ống mũi của bệnh nhân. Dụng cụ cần đủ nhỏ để đưa vào khe mũi, đồng thời đủ độ rộng để có thể đưa xuống thành sau họng của bệnh nhân.
Chuẩn bị y cụ:
1 khay đựng dụng cụ; 1 ống sonde foley; 1 mechè mũi trước; 1 lọ Rhinex (thuốc co mạch); 1 sợi chỉ 2.0; 1 tube Vaseline.
2. Tiến hành thủ thuật:
  • Cho bệnh nhân nằm ngửa, đầu bằng phẳng.
  • Trước tiên đặt một miếng tăm bông có tẩm dung dịch Rhinex 0,3% vào dưới cuốn mũi dưới để co cuốn mũi dưới làm rỗng hốc mũi.
  • Sau 5 phút lấy tăm bông ra, sau đó sử dụng một ống sonde foley tùy theo kích cỡ cửa mũi của bệnh nhân; bôi trơn bằng mỡ Vaseline và đưa từ cửa mũi trước ra thành sau họng. Đến khi bệnh nhân có cảm giác vướng họng, dùng đè lưỡi xác định ống sonde nằm tại thành sau họng.
  • Tiến hành bơm 5ml nước cất vào bóng của ống sonde, kéo ngược ống sonde nhẹ nhàng về phía cửa mũi sau đến khi có cảm giác chựng lại; tiếp tục bơm 4- 6ml nước cất, kiểm tra thành sau họng không chảy máu là được.
  • Kéo căng ống sonde về phía cửa mũi trước, nhét mechè mũi trước, cố định ống sonde bằng sợi chỉ 2.0 vào một miếng gạc; giữ đầu ống sonde bằng băng dính vào niêm mạc má. Sau 48- 72 giờ thì rút mechè.
  • Dùng kháng sinh trong thời gian lưu mechè mũi thường là cephalexin 0,5g x 3v/ngày hoặc cefixim 0,2g x 2v/ngày trong 3-5 ngày.
  • Rút mechè mũi cũng đơn giản: lấy mechè mũi trước ra, sau đó hút nước trong ống sonde foley ra hết, tiếp tục rút sonde ra khỏi mũi.
Nhét mechè mũi sau bằng sonde foley.
Biến chứng của phương pháp nhét mechè mũi sau:
- Tụt mèche mũi.
- Vỡ bóng ống sonde foley
- Suy hô hấp do thiếu khí.
- Hoại tử vách ngăn mũi.
- Tổn thương niêm mạc cửa mũi sau.
VI. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Bệnh viện ĐKKV Định Quán đã sử dụng phương pháp nhét mechè mũi sau bằng sonde foley từ tháng 4-2013 trong điều trị cầm máu mũi của các bệnh lý gây chảy máu mũi như: cao huyết áp; chấn thương vùng mũi, mặt; sốt xuất huyết Dengue; xuất huyết giảm tiểu cầu…
Kết quả đạt được:
- Không có trường hợp nào chảy máu hoặc tụt mechè trong thời gian lưu mechè mũi sau.
- Không ghi nhận viêm nhiễm hoặc hoại tử vách ngăn mũi, thành sau họng, cửa mũi sau.
- Bệnh nhân ăn uống bình thường, không cảm thấy khó chịu, không gặp tình trạng ăn uống kém như nhét mechè kiểu cổ điển.
- Không có trường hợp nào hoại tử vách ngăn mũi.
- Tùy từng trường hợp, rút mechè mũi sau sau 48 giờ đối với mức độ nhẹ, vừa và 72 giờ đối với những trường hợp chảy máu nặng.
- Thường dùng kháng sinh nhóm betalactam trong 3-5 ngày kết hợp kháng viêm và giảm đau.
So với phương pháp nhét mechè mũi sau cổ điển trước đây (bằng cục gạc lấp cửa mũi sau) thì phương pháp này ưu việt hơn nhiều. Nó đơn giản, tiến hành dễ dàng, ít gây khó chịu cho bệnh nhân, không gây tổn thương niêm mạc cửa mũi sau và thành sau họng. Phương pháp này có thể thực hiện được bởi bác sĩ hoặc điều dưỡng không thuộc chuyên khoa tai mũi họng.
VII. KẾT LUẬN
Nhét mechè mũi sau bằng sonde foley nhanh chóng, hiệu quả và đơn giản hơn nhiều so với các phương pháp trước đây. Có thể áp dụng rộng rãi cho nhân viên các khoa, phòng có giường bệnh của bệnh viện trong điều trị cấp cứu chảy máu mũi của nhiều bệnh lý khác nhau./.
Theo BS.CKI Nguyễn Sông Cửu Long Bệnh viện ĐKKV Định Quán