GIỚI THIỆU
Rắn lục cắn được xếp vào nhóm cấp cứu, cần theo dõi sát tại khoa Hồi sức cấp cứu/Chống độc có điều kiện hỗ trợ hô hấp (máy thở) và có sẵn huyết thanh kháng nọc rắn lục. Việc sử dụng huyết thanh kháng nọc rắn là phương thức điều trị đặc hiệu.
TỔNG QUAN
Rối loạn đông máu do rắn lục cắn
- Các nghiên cứu đã ghi nhận trong nọc rắn lục có các độc tố gây chảy máu, gồm men tiêu hủy protein (protease), trong đó metalloproteinase và sernoproteinase giữ vai trò chủ đạo. Protease làm tổn thương nội mô và thành mạch, gây tăng tính thấm thành mạch; đồng thời phá vỡ cân bằng các quá trình đông máu và cầm máu bình thường. Tổn thương nội mạc tạo điều kiện cho tiểu cầu bám dính, ngưng tập và tham gia hình thành các yếu tố khởi động cơ chế đông máu cầm máu trong huyết tương, trong đó có photpholipid. Ngoài ra, trong nọc còn có các enzym tiền đông máu, tác dụng hoạt hóa các yếu tố đông máu, chủ yếu là hoạt hóa prothrombin (yếu tố II) và yếu tố X, V thông qua tác động trực tiếp lên yếu tố II và V. Như vậy, nọc rắn gây tổn thương hệ thống đông máu và nội mô, đồng thời giải phóng các chất như serotonin, làm tăng khuynh hướng cảm ứng của nọc thông qua cơ chế co mạch. Tổng hợp các tác động này có thể dẫn đến đông máu, hình thành cục huyết khối trong lòng mạch và gây giảm tiểu cầu.
- Đồng thời, trong nọc rắn lục còn tồn tại các protein chống đông tác động lên cơ chế đông máu huyết tương. Các protein này liên kết với các yếu tố IX, X, làm tăng tiêu thụ các yếu tố IX, X, VII và tạo thành chuỗi axit amin; do đó gây thiếu hụt Xa và thiếu hụt phức hợp prothrombinase.
- Bên cạnh đó, nọc rắn lục gây tiêu fibrinogen thông qua các yếu tố fibrinogenolysin và các enzym có hoạt tính tương tự thrombin (thrombin-like enzyme), từ đó hoạt hóa hình thành mạng lưới fibrin thứ phát làm tăng tiêu thụ fibrinogen. Đồng thời, các yếu tố plasminogen hoạt hóa nhanh chóng chuyển plasminogen thành plasmin, tác động lên mạng lưới fibrin, dẫn đến tiêu fibrin diễn ra nhanh và gây xu hướng chảy máu; quá trình này có thể xuất hiện sớm trong vòng 30 phút và kéo dài 12-18 giờ. Nọc rắn lục còn chứa chất có hoạt tính thuỷ phân casein, ester arginin, axit arginin glycin aspartic trọng lượng phân tử thấp có tác dụng ức chế ngưng tập tiểu cầu; ngoài ra có hoạt hoá protein C làm thoái hoá Va và VIIIa, dẫn đến tiêu fibrin.
-
Vì vậy, rối loạn đông máu do nọc rắn lục được giải thích bởi cơ chế tiêu thụ hoặc ức chế các yếu tố đông máu, gây chảy máu trên diện rộng. Bệnh nhân rơi vào tình trạng giống đông máu nội mạch rải rác (DIC): một mặt xuất hiện các fibrin hòa tan và hình thành các cục huyết khối nhỏ rải rác trong lòng mạch; mặt khác, quá trình tiêu fibrin làm tiêu thụ quá mức các yếu tố đông máu. Hậu quả cuối cùng là thiếu máu tổ chức gây thiếu ôxy mô và xuất huyết.
Phân loại các nhóm độc tố có trong nọc rắn lục tác động đến hệ thống đông máu
| Nhóm độc tố | Tác động |
|---|---|
| Tiền đông máu | Yếu tố V hoạt hóa, Yếu tố IX hoạt hóa, Yếu tố X hoạt hóa |
| Chống đông máu | Protein C hoạt hóa, Protein bất hoạt yếu tố IX, X, Chất ức chế thrombin, Phospholipase A2 |
| Phân giải fibrinogen | thrombin-like enzyme plasminogen hoạt hóa |
| Tác động đến thành mạch | Haemorrhagins |
| Hoạt động tiểu cầu | Kích thích ngƣng tập tiểu cầu, Ức chế ngƣng tập tiểu cầu |
Nguyên nhân
Theo các tài liệu đã công bố, tại nước ta hiện đã ghi nhận 19 loài rắn lục. Trong đó, loài rắn lục tre (Cryptelytrops albolabris) phân bố phổ biến trên cả nước; rắn khô mộc (Protobothrops mucrosquamatus) phổ biến ở miền Bắc; rắn choàm quạp (Calloselasma rhodostoma) phân bố phổ biến ở miền Nam.
CHẨN ĐOÁN
Lâm sàng
Đặc điểm của con rắn đã cắn bệnh nhân quyết định hướng nhận dạng. Cần yêu cầu bệnh nhân hoặc gia đình mang con rắn (đã chết hoặc còn sống) đến để nhận dạng. Trường hợp cần thông tin nhanh hoặc không còn mẫu rắn có thể sử dụng ảnh con rắn đã cắn để hỗ trợ nhận dạng. Lưu ý không cố gắng bắt hoặc giết rắn; ngay cả khi đầu rắn đã chết vẫn có thể cắn người và gây ngộ độc.
Tại chỗ
- Vết cắn: dấu móc độc thường biểu hiện có 2 dấu răng cách nhau khoảng 1 cm.
- Vài phút sau khi bị cắn xuất hiện sưng tấy nhanh, đau nhức nhiều; kèm theo tại chỗ chảy máu liên tục không tự cầm.
- Sau khoảng 6 giờ, toàn chi sưng to, đau nhức, tím; có xuất huyết dưới da và xuất huyết trong cơ. Sưng to, đau nhức lan nhanh từ vết cắn đến gốc chi.
- Có thể có bọng nước và xuất huyết trong bọng nước. Có thể xảy ra nhiễm khuẩn tại chỗ và hội chứng khoang.
Toàn thân
- Chóng mặt, lo lắng.
- Tuần hoàn: có thể gặp sốc do mất máu, biểu hiện bằng tụt huyết áp, da đầu chi lạnh ẩm, lơ mơ, thiểu niệu và vô niệu. Cũng có thể gặp sốc phản vệ do nọc rắn.
- Huyết học: chảy máu tự phát tại chỗ và nơi tiêm truyền; chảy máu chân răng. Có thể có chảy máu trong cơ; chảy máu tiêu hóa; chảy máu tiết niệu; chảy máu âm đạo; chảy máu phổi và não.
- Có thể có suy thận cấp.
Cận lâm sàng
- Xét nghiệm nhanh xác định loại rắn độc: Nguyên lý dựa trên hấp thụ miễn dịch gắn enzym. Mẫu bệnh phẩm gồm dịch tại vết cắn, máu và nước tiểu của bệnh nhân.
- Xét nghiệm đông máu 20 phút tại giường (theo WHO 2010): lấy máu cho vào ống nghiệm không có chống đông (không được lắc hoặc nghiêng ống). Sau 20 phút, nếu máu vẫn ở dạng lỏng, không đông thì xét nghiệm dương tính; tình huống này đồng nghĩa với chẩn đoán xác định rắn lục cắn gây rối loạn đông máu và có chỉ định HTKN.
- Công thức máu: Có thể thấy tiểu cầu giảm; đồng thời có thể kèm thiếu máu do mất máu.
- Xét nghiệm đông máu: Tình trạng hay gặp gồm tỷ lệ prothrombin giảm, IRN kéo dài, APTT kéo dài, fibrinogen giảm và D-dimer tăng.
- Bilan thận: gồm urê, creatinin, điện giải, protein (máu và nƣớc tiểu), CK tăng.
- Điện tim, khí máu
Chẩn đoán xác định
- Dựa vào hoàn cảnh bị rắn lục cắn, biểu hiện lâm sàng sưng nề tại chỗ và xuất huyết nhiều nơi do rối loạn đông máu, phối hợp xét nghiệm đông máu 20 phút tại giường và xét nghiệm đông máu.
- Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) các năm 2002, 2005, 2010 đã đưa ra các hội chứng định hướng chẩn đoán loài rắn độc và được áp dụng ở nhiều quốc gia. Trong đó hội chứng 1 mô tả bệnh nhân bị rắn cắn có sưng đau tại chỗ và chảy máu, đồng thời xét nghiệm RLĐM gợi ý rắn lục cắn gây rối loạn đông máu (Viperidae - tất cả các loài).
- Chẩn đoán cụ thể loài rắn lục cắn:
- Đối với 19 loài rắn lục đã được ghi nhận ở nước ta cho tới nay, hình thái của từng loài thường rất khó phân biệt chỉ dựa trên nhận dạng sơ bộ của bác sĩ lâm sàng; bệnh cảnh nhiễm độc do từng loài có thể khác nhau về mức độ và nhìn chung cần sử dụng loại HTKNR riêng cho từng loài.
- Chẩn đoán cụ thể loài rắn lục cắn cần có mẫu nhận dạng tối ưu: tốt nhất là con rắn đã cắn bệnh nhân (gồm rắn còn sống, rắn đã chết hoặc phần cơ thể còn lại của con rắn, kể cả khi đang phân hủy). Nếu không còn mẫu rắn, có thể dùng ảnh chụp con rắn đã cắn. Phương pháp cơ bản là nhận dạng dựa trên hình thái con rắn bởi các chuyên gia về rắn. Ở các trường hợp khó hoặc mẫu rắn không toàn vẹn, cần nhận dạng dựa trên ADN. Sự phối hợp từ phía bệnh nhân và các cán bộ y tế ở các tuyến trong việc thu thập và lưu giữ mẫu rắn là yếu tố quan trọng.
Chẩn đoán phân biệt
- Phân biệt với các loài rắn độc khác hoặc động vật khác cắn: có thể nhầm lẫn do vết cắn kèm nhiễm trùng nặng, từ đó gây biến chứng rối loạn động máu và giảm tiểu cầu.
ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc điều trị
- Rắn độc cắn là cấp cứu.
- Bệnh nhân cần được sơ cứu thích hợp, vận chuyển nhanh chóng và an toàn đến các khoa Cấp cứu hoặc khoa Hồi sức chống độc.
-
Các trường hợp có chảy máu hoặc có xét nghiệm đông máu 20 phút tại giường dương tính phải được điều trị bằng huyết thanh kháng nọc rắn lục đặc hiệu và/hoặc truyền máu, đồng thời sử dụng các chế phẩm máu.
Điều trị cụ thể
Sơ cứu rắn độc cắn
Sau khi bị rắn độc cắn, cần tiến hành sơ cứu ngay trước khi chuyển bệnh nhân đến bệnh viện. Việc sơ cứu có thể được thực hiện bởi người hỗ trợ hoặc do chính bản thân bệnh nhân.
Mục tiêu của sơ cứu:
Các biện pháp sơ cứu:
Mục tiêu của sơ cứu:
- Làm chậm sự hấp thu của nọc độc vào tuần hoàn hệ thống.
- Bảo vệ tính mạng bệnh nhân, kiểm soát các triệu chứng nguy hiểm xuất hiện sớm và ngăn ngừa biến chứng trước khi bệnh nhân đến cơ sở y tế.
- Vận chuyển bệnh nhân nhanh nhất, an toàn nhất tới cơ sở y tế có điều kiện điều trị, có khả năng truyền các chế phẩm máu hoặc có huyết thanh kháng nọc đặc hiệu.
- Động viên bệnh nhân, giúp họ yên tâm, giảm lo lắng.
- Không để bệnh nhân tự đi lại. Bất động chi bị cắn bằng nẹp vì mọi vận động của chi hoặc co cơ đều làm tăng sự vận chuyển nọc độc về tuần hoàn hệ thống. Cởi bỏ đồ trang sức ở chi bị cắn do có nguy cơ gây chèn ép khi chi sưng nề.
- Tránh can thiệp vào vết cắn để hạn chế nguy cơ nhiễm trùng, tăng hấp thu nọc và làm dễ chảy máu thêm.
- Không uống hoặc đắp bất kỳ thuốc gì lên vết cắn.
- Nếu đau nhiều: ở người lớn, cho paracetamol uống hoặc tiêm tĩnh mạch.
- Nếu có dấu hiệu toàn thân hoặc tại chỗ nhiều, đặt ngay một đường truyền tĩnh mạch ngoại vi (đặt xa vị trí cắn) để truyền dịch.
- Nếu không có phương tiện cấp cứu lưu động, cần chuyển nạn nhân ngay, không để mất quá nhiều thời gian chờ sơ cứu.
Điều trị tại bệnh viện
- Sát trùng tại chỗ, chống uốn ván (tiêm SAT) và kháng sinh dự phòng.
-
Điều trị bằng HTKN đặc hiệu được chỉ định khi:
Hoàn cảnh được xác định hoặc nghi ngờ bệnh nhân bị rắn lục cắn có một trong các dấu hiệu sau:- Có vết răng cắn (1-2 răng), chảy máu tại chỗ và sưng nề, bầm tím vùng da xung quanh vết cắn.
- Chảy máu bất thường: chảy máu hệ thống tự phát.
- RLĐM: xét nghiệm đông máu 20 phút tại giường dương tính, hoặc giảm prothrombin, INR, APTT, fibrinogen hoặc tiểu cầu giảm dưới 100 x 10 9 /L.
- Sưng đau lan rộng đến hơn một nửa chi bị rắn cắn trong vòng 48 giờ.
- Đánh giá đáp ứng tốt với HTKN đặc hiệu khi tình trạng lâm sàng cải thiện, đỡ đau đầu, buồn nôn, chảy máu tại chỗ tự cầm và xét nghiệm đông máu sau 6 giờ trở về bình thường. Nếu sau 2 giờ bệnh nhân vẫn tiếp tục chảy máu hoặc sau 6 giờ còn RLĐM thì chỉ định liều HTKN tiếp theo. Cần lưu ý đề phòng sốc phản vệ (nếu xảy ra phải xử trí ngay theo phác đồ).
- Truyền máu khi bệnh nhân mất máu nhiều.
- Truyền plasma tươi đông lạnh, tủa cryo, khối tiểu cầu nếu có chỉ định.
- Truyền dịch nhiều và theo dõi nhằm phòng suy thận cấp do tiêu cơ vân.
- Chạy thận nhân tạo khi suy thận cấp do tiêu cơ vân nặng.
TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG
- Có thể hồi phục hoàn toàn nếu không xuất hiện biến chứng.
DỰ PHÒNG
- Thực hiện truyền thông giáo dục phòng chống rắn độc cắn.
- Phát quang bờ cây bụi rậm quanh nhà, không bắc giàn hoa và dây leo ở sân trước nhà; trồng xả hoặc rắc bột lưu huỳnh quanh nhà là những biện pháp xua đuổi rắn có thể và nên áp dụng, đặc biệt ở các vùng có nhiều rắn.
- Khi vào rừng hoặc những nơi nghi có rắn lục phải đội mũ rộng vành, mặc quần áo dài, đi giày cao cổ và nên khua gậy xua đuổi rắn.
- Nếu bị rắn lục cắn cần nhanh chóng sơ cứu đúng hướng dẫn và chuyển người bệnh đến cơ sở y tế để tiếp tục được xử trí theo phác đồ.
Tài liệu tham khảo
- Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí ngộ độc. Bộ Y Tế. 31/08/201