GIỚI THIỆU
Khó thở cấp là một trong những triệu chứng thường gặp nhất dẫn đến việc bệnh nhân phải được chuyển vào khoa Cấp Cứu. Giá trị báo trước của triệu chứng này là đáng kể, do đó bắt buộc phải tiến hành đánh giá cẩn thận. Chẩn đoán phân biệt khó thở trong thực hành lâm sàng phức tạp vì khó thở thiếu tính đặc hiệu và mức độ khó thở không luôn phản ánh tương xứng mức độ nặng của bệnh lý tiềm ẩn.
Đánh giá ban đầu đối với khó thở cần bảo đảm: (1) đánh giá chẩn đoán nhanh chóng; (2) xác định chiến lược theo dõi tối ưu; và (3) cung cấp thông tin có giá trị để chỉ định bệnh nhân vào môi trường chăm sóc phù hợp nhất. Trong những năm gần đây, bằng chứng tích lũy cho thấy siêu âm phổi, phối hợp với siêu âm tim, là phương pháp đánh giá nhanh, không xâm lấn, đầu tiên giúp phân biệt chính xác mối liên quan đến tim, phổi hay ngoài phổi ở bệnh nhân khó thở.
Đồng thời, các phương thức hỗ trợ hô hấp không xâm lấn như oxy mũi lưu lượng cao (HFNO) và áp lực đường thở dương liên tục (CPAP) ngày càng được quan tâm nhờ tính hiệu quả và tính thực tiễn trong điều trị bệnh nhân khó thở cần hỗ trợ thở máy nhưng không sử dụng phương thức thở máy xâm lấn (IMV). Tổng quan lâm sàng này tập trung vào sinh lý bệnh của khó thở cấp, biểu hiện và đánh giá lâm sàng; trong đó bao gồm chẩn đoán dựa trên siêu âm và các phương thức hỗ trợ hô hấp không xâm lấn có thể được chỉ định cho bệnh nhân khó thở cấp thứ phát hoặc liên quan đến suy hô hấp.
TỔNG QUAN
- Khó thở là một thuật ngữ rộng phản ánh sự đa dạng của cảm giác khó chịu liên quan đến hơi thở, bao gồm cảm giác đói không khí (cảm giác có thể xuất hiện khi nín thở kéo dài), cảm giác công thở/gắng sức hoặc tức ngực. Mức độ và tính chất của khó thở thay đổi tùy theo cơ chế sinh lý bệnh căn bản và đồng thời chịu ảnh hưởng bởi nhận thức của bệnh nhân, trong đó có tác động từ các đặc điểm xã hội, văn hóa và tâm lý. Khó thở cấp là một trong các lý do chính dẫn đến việc nhập khoa cấp cứu (ED), bởi triệu chứng này thường gặp trong nhiều nhóm bệnh, bao gồm bệnh tim mạch, bệnh hô hấp, bệnh truyền nhiễm và ung thư.
- Cường độ khó thở khi bệnh nhân đến ED có giá trị dự đoán khả năng phải nhập viện; đồng thời chỉ số này liên quan đến thời gian nằm tại ED kéo dài và tỷ lệ tử vong tại bệnh viện cao. Do bác sĩ phải chẩn đoán nhanh và lựa chọn kế hoạch điều trị dựa trên lượng thông tin lâm sàng còn hạn chế, việc quản lý chính xác và kịp thời có thể cứu sống người bệnh. Vì vậy, chẩn đoán phân biệt khó thở cấp tại ED là một thách thức lâm sàng, đòi hỏi đưa ra các quyết định phức tạp nhằm giảm tỷ lệ tử vong tại bệnh viện và rút ngắn thời gian nằm viện.
- Mục tiêu chính của phần đánh giá tổng quan này là nhắc lại các mô hình sinh lý bệnh chủ yếu của khó thở, cũng như các chiến lược chẩn đoán và điều trị khó thở cấp trong môi trường cấp cứu, tập trung vào thông khí không xâm lấn.
SINH LÝ BỆNH
Mục phần này tập trung thảo luận các cơ chế cơ bản—thường phối hợp với nhau—gây khởi phát khó thở ở bệnh nhân khi đến ED. Để có cái nhìn chi tiết và hệ thống hơn về sinh lý bệnh của khó thở, có thể tham khảo thêm tại: Tiếp cận suy hô hấp và chẩn đoán và xử trí suy hô hấp cấp.
Tăng CO2/giảm Oxy máu
- Ngược lại với quan niệm ban đầu cho rằng tăng CO 2 cấp không thể trực tiếp gây khó thở mà chỉ thông qua các thay đổi phản xạ trong hoạt động hô hấp, các nghiên cứu trên các đối tượng khỏe mạnh đã chứng minh rằng chính sự gia tăng áp suất riêng phần carbon dioxide trong máu động mạch (PaCO 2 ) có thể gây khó thở. Tình trạng thiếu O 2 mức độ nhẹ làm trầm trọng thêm cảm giác đói không khí do tăng CO 2 trong máu; trong khi hành động thở lại làm giảm rõ rệt hiện tượng này, phù hợp với các nghiên cứu trước đây về nín thở.
- Sự tăng PaCO 2 cấp—có thể góp phần gây khó thở—xuất hiện tương đối thường gặp ở nhiều bệnh, bao gồm hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS), bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và hen phế quản trong các đợt cấp, cũng như suy tim cấp.
- Bên cạnh đó, tình trạng thiếu O 2 cấp cũng có thể gây ra đói không khí; tuy nhiên, mức giảm áp suất oxy trong máu động mạch (PaO 2 ) cần thiết để tạo cảm giác khó chịu về hô hấp lớn hơn nhiều so với mức tăng PaCO 2 4 mmHg để gây ra tác động tương tự, ít nhất trên các đối tượng khỏe mạnh. Khi thông khí bị hạn chế, những người khỏe mạnh với CO 2 bình thường chỉ cảm nhận được đói không khí khi PaO 2 giảm xuống dưới ~ 60 mmHg.
Cơ học hô hấp
- Cảm giác tăng công thở/gắng sức có thể được khởi phát trong nhiều tình huống, trong đó có sự hình thành đàn hồi hoặc tăng trở kháng khiến cơ hô hấp phải co lại nhiều hơn, hoặc trong đó khả năng tạo lực của cơ hô hấp bị suy giảm. Hiệu suất của cơ hô hấp có thể giảm do bản thân cơ hô hấp yếu đi hoặc do cơ hô hấp phải co lại trong điều kiện cơ học bất lợi, liên quan đến thay đổi chiều dài hoạt động của chúng—như khi có tăng thông khí tĩnh hoặc tăng thông khí động.
- Trong các bối cảnh lâm sàng, nguyên nhân thường gặp của tăng thông khí động là biến cố Giới hạn Lưu lượng Thở ra (EFL) lưu thông, tức là lưu lượng thở ra không thể tăng tương ứng để đáp ứng sự gia tăng áp lực đẩy ở mức đẳng tích. Khi nghỉ ngơi, EFL lưu thông thường hiện diện ở bệnh nhân COPD ổn định, và biến cố này tăng lên rõ rệt trong các đợt cấp. Nếu tình trạng tăng thông khí được giảm bằng thuốc hoặc phục hồi chức năng thể chất thì khó thở sẽ giảm. EFL lưu thông cũng thường gặp ở bệnh nhân suy tim mạn tính ở tư thế nằm ngửa. Ở các bệnh nhân có EFL lưu thông, khó thở khi nằm thường nổi bật hơn; mức tăng cảm giác khó thở khi chuyển từ đứng sang nằm ngửa lớn hơn so với bệnh nhân có mức tăng nhỏ hơn hoặc thậm chí có thể giảm dung tích hít vào, gợi ý rằng tăng thông khí động là yếu tố quyết định giải thích hiện tượng này. Trong suy tim mất bù, EFL lưu thông có thể xuất hiện ngay cả ở tư thế đứng. Ở tình trạng này, điều trị cấp bằng thuốc giãn mạch và thuốc lợi tiểu có thể loại bỏ EFL lưu thông và làm giảm cảm giác khó thở. (Xem thêm: Phân tích kết quả đo chức năng hô hấp FVC, FEV1, FEV1/FVC).
Kích hoạt thụ thể phổi
ĐÁNH GIÁ CHẨN ĐOÁN
Biểu hiện lâm sàng
Dấu ấn sinh học từ máu
Phân tích khí máu động mạch
BNP (B-type natriuretic peptide) Peptit lợi niệu loại B
Troponin và CK (Creatinine Kinase)
D-Dimer
X-quang ngực
Siêu âm
- Đường giữa (trung đòn) dưới xương đòn;
- Điểm ngay sát đầu núm vú;
- Tại điểm mà đường nách sau cắt đường ngang núm vú (điểm PLAPS – hội chứng phế nang sau bên và/hoặc màng phổi).
CT ngực
XỬ TRÍ KHÓ THỞ CẤP VỚI HỖ TRỢ HÔ HẤP KHÔNG XÂM LẤN
Phù phổi cấp do tim
Suy hô hấp giảm oxy máu cấp không do tim
CPAP (Continuous positive airway pressure) Áp lực đường thở dương liên tục
NIV (Non-invasive ventilation) thông khí không xâm lấn
HFNO (High-flow nasal oxygen) Oxy mũi lưu lượng cao
Suy hô hấp tăng CO2 máu cấp không do tim
HFNO (High-flow nasal oxygen) Oxy mũi lưu lượng cao
KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo
- Acute dyspnea in the emergency department: a clinical review. Published: 02 June 2023 Volume 18, pages 1491–1507, (2023) Cite this article