GIỚI THIỆU
Đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp tính (acute ischemic stroke), hay còn gọi là nhồi máu não, là tình trạng dòng máu giảm hoặc tắc đột ngột, không còn lưu thông tới một vùng của não, dẫn đến mất chức năng thần kinh tương ứng.
Hệ thống phân loại đột quỵ được xây dựng dựa trên thử nghiệm đa trung tâm điều trị đột quỵ cấp (TOAST), trong đó phân loại nhồi máu não thành 3 thể chính:
- Nhồi máu não động mạch lớn
- Nhồi máu não động mạch nhỏ, hoặc nhồi máu ổ khuyết
- Nhồi máu não do cục tắc di chuyển từ tim
Nhồi máu não động mạch lớn thường liên quan đến huyết khối hình thành trên thành động mạch bị vữa xơ, điển hình là động mạch cảnh, động mạch sống nền và động mạch não; tuy nhiên, nhồi máu não động mạch lớn cũng có thể do huyết khối hoặc cục tắc xuất phát từ tim, và đây cũng là nguyên nhân phổ biến nhất gây tái phát nhồi máu não.
Nhồi máu ổ khuyết do tắc mạch nhỏ (thường do các động mạch xuyên nằm sâu trong não) và nguyên nhân chủ yếu là bệnh lý mạch máu. Trong nhiều trường hợp, không xác định được nguyên nhân gây nhồi máu não, khi đó được xếp vào nhóm nhồi máu não không rõ nguyên nhân.
TỔNG QUAN
Giải phẫu bệnh
Não là cơ quan có hoạt động chuyển hóa cao nhất trong cơ thể. Mặc dù chỉ chiếm 2% khối lượng cơ thể, nhưng não cần 15-20% tổng cung lượng tim lúc nghỉ để cung cấp glucose và oxy nhằm duy trì quá trình trao đổi chất.
Các bán cầu đại não được nuôi dưỡng nhờ sự phối hợp cấp máu từ 3 động mạch chính; cần ghi nhớ đặc biệt gồm: các động mạch não trước, não giữa và não sau.
Các động mạch não trước và não giữa bảo đảm tuần hoàn phía trước, nguyên ủy xuất phát từ động mạch cảnh trong. Động mạch não trước cấp máu cho phần giữa của thùy trán và thùy đỉnh và các phần trước của hạch nền và bao trong.
Các động mạch đốt sống tham gia tạo thành động mạch nền. Các động mạch tiểu não sau (PICAs) xuất phát từ các đoạn xa của động mạch đốt sống. Các động mạch tiểu não trước dưới (AICAs) xuất phát từ đoạn gần của động mạch nền. Các động mạch tiểu não trên (SCA) xuất phát xa từ đoạn xa của động mạch nền trước khi phân chia thành các động mạch não sau (PCAs).
| Giải phẫu mạch máu nuôi não | |
|---|---|
| Vùng mạch máu | Cấu trúc được nuôi dưỡng |
| Tuần hoàn trước (hệ cảnh) | |
| ĐM não trước | - Nhánh vỏ não: trán giữa, thùy đỉnh - Nhánh xiên bèo vân: đầu nhân đuôi, nhân bèo, cánh tay trước bao trong |
| ĐM não giữa | - Nhánh vỏ não: Vùng trán bên, và thùy đỉnh, vùng trước va bên thùy thái dương - Nhánh xiên bèo vân: Nhân bèo xấm và nhạt, bao trong |
| ĐM mạch mạc trước | - Dải thị giác, thái dương trong, đồi thị, vành tia, cánh tay sau bao trong |
| Tuần hoàn sau (hệ sống nền) | |
| ĐM não sau | - Nhánh vỏ não: Tùy chẩm, phần sau, trong thùy thái dương, thùy đỉnh - Nhánh xiên: Tân não, đồi thị phần sau, và giữa |
| ĐM tiểu não sau dưới | - Thùy nhộng dưới, phần sau dưới bán cầu tiểu não |
| ĐM tiểu não trước dưới | - Phần trước dưới bán cầu tiều não |
| ĐM tiểu não trên | - Phần thùy nhộng trên, tiểu não trên |
Sinh lý bệnh
Nhồi máu não cấp tính do huyết khối hoặc cục tắc gây thiếu máu cục bộ, dẫn đến thiếu oxy và giảm ATP của tế bào, làm ảnh hưởng tới sự chênh lệch nồng độ ion qua màng tế bào và gây phù tế bào não.
Vùng trung tâm và vùng rìa ổ nhồi máu
- Tắc mạch não cấp tính gây ra các vùng thiếu máu cục bộ không đồng nhất. Những vùng có lưu lượng máu não dưới 10 ml/100g mô/phút được gọi là vùng lõi hay trung tâm ổ nhồi máu; tại vùng này, tế bào não hoại tử sau vài phút nhồi máu não.
- Khu vực ngoại biên của ổ nhồi máu (lưu lượng máu não <25 ml/100g mô/phút), còn được gọi là vùng rìa ổ nhồi máu, nơi tế bào não có thể tồn tại trong vài giờ vì vẫn còn được tưới máu.
Dòng thác thiếu máu cục bộ
- Khi nhồi máu não xảy ra, tế bào thần kinh bị khử cực trong tình trạng thiếu oxy và không đủ ATP sẽ làm đình trệ hệ thống vận chuyển ion qua màng tế bào; từ đó rối loạn hoạt động của bơm natri-kali, tăng natri nội bào và tăng thể tích nước nội bào. Hậu quả là phù não xuất hiện rất sớm khi thiếu máu não.
- Ngoài ra, hoạt động trao đổi natri-canxi qua màng tế bào cũng bị rối loạn. Các ion canxi đi vào trong tế bào, giải phóng một số chất dẫn truyền thần kinh như glutamate, hoạt hóa N-methyl-D-aspartate (NMDA) và các thụ thể kích thích khác trên tế bào thần kinh, từ đó hình thành vòng xoắn bệnh lý tạo dòng canxi khổng lồ đi vào tế bào và kích hoạt nhiều enzyme thoái hóa khác nhau, dẫn tới sự phá hủy tế bào thần kinh. Các gốc tự do, axit arachidonic và oxit nitric làm tế bào thần kinh bị tổn thương nặng nề hơn.
- Thiếu máu cục bộ trực tiếp phá hủy hàng rào máu não (thường xảy ra trong 4-6 giờ sau đột quỵ), khiến protein và nước tràn vào khoảng gian bào gây phù mạch và phù não. Trường hợp nặng nhất thường xảy ra sau 3-5 ngày và có thể kéo dài nhiều tuần nếu nước và protein không được tái hấp thu.
- Trong vòng vài giờ đến vài ngày sau đột quỵ thiếu máu não, các cytokin được hình thành, thúc đẩy quá trình viêm và cản trở vi tuần hoàn. Vùng ngoại vi ổ nhồi máu dần dần thu hẹp, trong khi vùng trung tâm ổ nhồi máu lan rộng. Các tế bào hình sao, tế bào đuôi gai lớn và vi tế bào thần kinh đệm dần bị hoại tử. Nhu mô não bị nhồi máu sẽ dịch hóa và bị đại thực bào tiêu hủy; vùng mô hoại tử này mất đi và được thay thế bằng các nang nước trong não.
Nhồi máu chuyển dạng xuất huyết
- Khoảng 5% bệnh nhân nhồi máu não không biến chứng, không điều trị bằng thuốc tiêu huyết khối, nhưng vẫn có hiện tượng chảy máu trong ổ nhồi máu.
- Hình thái có thể là những chấm xuất huyết nằm trong ổ nhồi máu hoặc một hoặc nhiều khối máu tụ, gây suy giảm thần kinh và có thể cần can thiệp phẫu thuật hoặc dẫn lưu.
- Nguyên nhân chuyển dạng xuất huyết có thể do tái tưới máu, tái thông mạch đã bị tắc, do tuần hoàn bàng hệ hoặc do vỡ hàng rào máu não làm hồng cầu thoát quản.
- Tình trạng này thường xảy ra từ 2-14 ngày sau đột quỵ.
-
Thường gặp ở những bệnh nhân:
- Có bệnh lý tim mạch gây huyết khối trong buồng tim.
- Sau khi dùng thuốc tiêu sợi huyết rt-PA ở những bệnh nhân có các ổ giảm tỷ trọng ngay khi chụp cắt lớp không cản quang trong những giờ đầu.
Phù não và co giật sau đột quỵ
- Mặc dù phù não nặng có thể xảy ra ở bệnh nhân đột quỵ do thiếu máu hệ cảnh (tuần hoàn trước), nhưng cũng ít gặp (10-20%). Phù và thoát vị là nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong sớm ở bệnh nhân nhồi máu não.
- Co giật xảy ra ở 2-23% bệnh nhân trong những ngày đầu tiên sau nhồi máu; một phần nhỏ bệnh nhân sau nhồi máu não bị co giật mạn tính.
Dịch tể học
- Đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế và là nguyên nhân hàng thứ năm gây tử vong ở Hoa Kỳ. Hàng năm có khoảng 795.000 người ở Hoa Kỳ mắc đột quỵ, trong đó số người mới bị là 610.000 người và đột quỵ tái phát 185.000 người. Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy 82-92% đột quỵ ở đây là nhồi máu não.
- Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm có 15 triệu người bị đột quỵ trên toàn thế giới, trong đó 5 triệu người chết và 5 triệu người bị tàn tật vĩnh viễn.
- Đàn ông có nguy cơ đột quỵ cao hơn phụ nữ: đàn ông da trắng có tỷ lệ đột quỵ là 62,8/100.000 dân, tử vong 26,3% trong khi phụ nữ có tỷ lệ đột quỵ là 59/100.000 dân và tỷ lệ tử vong là 39,2%.
- Mặc dù đột quỵ thường được xem là bệnh lý của người cao tuổi, nhưng 1/3 số đột quỵ xảy ra ở người dưới 65 tuổi. Nguy cơ đột quỵ tăng theo tuổi, đặc biệt ở những người trên 64 tuổi.
NGUYÊN NHÂN
Đột quỵ thiếu máu não là hậu quả của các nguyên nhân gây giảm hoặc tắc nghẽn dòng máu (huyết khối ngoại sọ hoặc nội sọ gây lấp mạch). Tổn thương tế bào thần kinh không hồi phục khi lưu lượng máu não dưới 18 ml/100g mô não/phút; tế bào chết nhanh chóng khi lưu lượng máu dưới 10 ml/100g mô não/phút.
Các yếu tố nguy cơ
Các yếu tố nguy cơ của nhồi máu não bao gồm những yếu tố có thể thay đổi và những yếu tố không thể thay đổi. Việc xác định các yếu tố nguy cơ ở từng bệnh nhân giúp thầy thuốc nhanh chóng nhận diện hoặc định hướng nguyên nhân gây đột quỵ và đưa ra phác đồ điều trị, đồng thời phòng ngừa tái phát phù hợp.
Các yếu tố nguy cơ không thay đổi
- Tuổi
- Chủng tộc
- Giới tính
- Tiền sử đau nửa đầu kiểu migrain
- Loạn sản xơ cơ
- Di truyền: gia đình có người bị đột quỵ hoặc bị các cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA).
Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi
- Tăng huyết áp (quan trọng nhất)
- Đái tháo đường
- Bệnh tim: rung nhĩ, bệnh van tim, suy tim, hẹp van hai lá, bệnh tim bẩm sinh có luồng thông trái - phải (ví dụ lỗ bầu dục thông), giãn tâm nhĩ và tâm thất
- Rối loạn lipid máu
- Thiếu máu não thoáng qua (TIAs)
- Hẹp động mạch cảnh
- Tăng homocystine máu
- Các vấn đề về lối sống: uống rượu quá mức, hút thuốc lá, sử dụng ma túy, ít hoạt động thể lực
- Béo phì
- Dùng thuốc tránh thai hoặc dùng hormone sau mãn kinh
- Bệnh hồng cầu hình liềm
Tắc động mạch lớn
- Do vỡ xơ vữa động mạch: thân chung động mạch cảnh, động mạch cảnh trong
- Do huyết khối từ tim: hẹp van hai lá, rung nhĩ...
Đột quỵ ổ khuyết
Đột quỵ ổ khuyết chiếm 13-20% bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não. Phần lớn đột quỵ ổ khuyết có liên quan đến tăng huyết áp.
Nguyên nhân thường gặp:
- Mảnh vữa xơ nhỏ (microatheroma)
- Nhiễm lipohyalin
- Hoại tử dạng fibrin thứ phát sau tăng huyết áp hoặc viêm mạch
- Vữa xơ động mạch hyaline
- Bệnh mạch amyloid
- Bệnh lý mạch máu khác...
Đột quỵ do cục tắc (emboli)
Cục tắc từ tim có thể chiếm tới 20% nguyên nhân gây nhồi máu não cấp, và thường gặp trong các bệnh:
- Bệnh van tim (hẹp van hai lá, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, van tim nhân tạo)
- Nhồi máu cơ tim, rung nhĩ, bệnh cơ tim giãn hoặc suy tim sung huyết nặng: gây huyết khối trong buồng tim rồi di chuyển lên mạch não.
- U nhày nhĩ trái.
Đột quỵ do huyết khối (thrombus)
Nguyên nhân:
- Do nứt vỡ mảng vữa xơ động mạch: tổn thương và mất các tế bào nội mô, lộ ra lớp dưới nội mạc làm hoạt hóa tiểu cầu, hoạt hóa các yếu tố đông máu, ức chế tiêu sợi huyết.
- Hẹp động mạch: làm tăng tốc độ dòng máu chảy, tăng kết dính tiểu cầu và dễ dàng hình thành cục máu đông gây tắc nghẽn mạch.
Ở những bệnh nhân trẻ tuổi, cần lưu ý:
- Các bệnh lý tăng đông (kháng thể kháng phospholipid, thiếu protein C, thiếu protein S, có thai)
- Bệnh hồng cầu hình liềm
- Loạn sản xơ cơ
- Lóc tách động mạch
- Co mạch liên quan đến các chất kích thích (cocaine, amphetamine)
CHẨN ĐOÁN
Khai thác tiền sử và hỏi bệnh
- Tăng huyết áp
- Đái tháo đường
- Hút thuốc lá, thuốc lào
- Rối loạn lipid máu
- Tiền sử bệnh động mạch vành, bắc cầu chủ vành, rung nhĩ...
- Tiền sử chấn thương
- Các bệnh về đông máu
- Dùng chất kích thích (đặc biệt là cocaine)
- Đau đầu migraine
- Uống thuốc tránh thai
- Liệt nửa người hoặc liệt 1 phần cơ thể
- Mất hoặc giảm cảm giác một bên cơ thể
- Mất thị lực một hoặc hai mắt
- Mất hoặc giảm thị trường
- Nhìn đôi (song thị).
- Giảm hoặc không vận động được khớp xương
- Liệt mặt
- Thất điều
- Chóng mặt (hiếm khi xuất hiện đơn lẻ)
- Thất ngôn
- Rối loạn ý thức đột ngột
Khám lâm sàng
Khám toàn thân và tim mạch
- Xác nhận các triệu chứng và dấu hiệu đột quỵ (suy giảm chức năng thần kinh) trên người bệnh.
- Phân biệt đột quỵ não với các bệnh lý có biểu hiện giống đột quỵ.
- Đánh giá tiến triển của đột quỵ và tình trạng chung của người bệnh.
- Bệnh lý đáy mắt: bệnh võng mạc, tắc mạch, xuất huyết.
- Tim: loạn nhịp hoàn toàn, tiếng thổi bất thường, tiếng ngựa phi.
- Mạch máu ngoại biên: tiếng thổi hoặc rung miu động mạch cảnh, mạch quay hoặc mạch đùi bắt yếu.
-
Khám toàn thân:
- Kiểm tra đường thở, nhịp thở và tuần hoàn, các dấu hiệu sinh tồn. Chú ý bảo vệ đường thở ở những bệnh nhân có rối loạn ý và phản xạ ho, nuốt.
- Huyết áp: huyết áp có thể tăng cao sau đột quỳ và phần lớn huyết áp sẽ giảm dần về mức nền.
- Đầu, mặt, cổ: kiểm tra để phát hiện chấn thương.
Khám thần kinh
- Một lần nữa xác định các triệu chứng gợi ý đột quỵ.
- Đánh giá mức độ thiếu hụt thần kinh và theo dõi tiến triển theo thang điểm NIHSS.
- Ước lượng tiên lượng bệnh nhân và lựa chọn phương pháp điều trị tối ưu nhất.
- Các dây thần kinh sọ.
- Chức năng vận động, cảm giác.
- Chức năng tiểu não.
- Dáng đi.
- Ngôn ngữ: khả năng đáp ứng và nhận thức.
- Ý thức.
- Mức độ ý thức.
- Thị lực, thị trường.
- Chức năng vận động.
- Cảm giác và mức độ chú ý.
- Chức năng tiểu não.
- Ngôn ngữ.
Một số thể lâm sàng định khu
Nhồi máu não động mạch não giữa
- Liệt nửa người đối bên.
- Tê bì nửa người đối bên.
- Bán manh cùng bên.
- Nhìn về phía tổn thương.
- Mất nhận thức.
- Thất ngôn, nếu tổn thương ở bên bán cầu ưu thế.
- Thờ ơ, giảm chú ý; thất điều gặp trong một số tổn thương ở bán cầu không ưu thế.
Nhồi máu não động mạch não trước
- Mất ức chế và mất kiểm soát lời nói.
- Phản xạ nguyên phát (ví dụ: phản xạ nắm tay, phản xạ mút).
- Thay đổi tâm lý.
- Suy giảm khả năng tư duy.
- Liệt đối bên (liệt chi dưới nặng hơn chi trên).
- Thiếu hụt cảm giác vỏ não đối bên.
- Dáng đi bất thường.
- Tiểu tiện không tự chủ.
Nhồi máu não động mạch não sau
- Bán manh đối bên.
- Mù vỏ não.
- Mất nhận thức thị giác.
- Thay đổi tâm lý.
- Giảm trí nhớ.
- Chóng mặt
- Rung giật nhãn cầu
- Nhìn đôi
- Mất thị trường
- Nuốt khó
- Khó vận động khớp
- Tê bì vùng mặt
- Ngất
- Thất điều.
Nhồi máu ổ khuyết
- Liệt vận động hoặc cảm giác đơn thuần, thất điều đối bên.
- Ít ảnh hưởng đến nhận thức, trí nhớ, lời nói, ý thức.
Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh lý toàn thân
- Co giật
- Nhiễm khuẩn toàn thân
- U não
- Rối loạn chuyển hóa, rối loạn nước, điện giải như hạ natri máu, hạ đườngmáu
- Hội chứng hố sau
Chẩn đoán phân biệt với xuất huyết não
- Hôn mê sâu
- Gáy cứng
- Co giật
- Huyết áp tâm trương > 110 mmHg
- Nôn
- Đau đầu nhiều
Đột quỵ thoáng qua
- Còn gọi là cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA): suy giảm chức năng thần kinh cấp tính, tạm thời trong vòng 24h, nguyên nhân do thiếu máu một vùng não, tủy sống hoặc hệ thống lưới.
- Khoảng 80% bệnh nhân TIA tự hồi phục trong 60 phút; cơ chế gây TIA tương tự như đột quỵ thiếu máu não.
- Khoảng 10% bệnh nhân TIA sẽ bị đột quỵ não thật sự trong thời gian 90 ngày, trong đó 50% trường hợp đột quỵ não xảy ra trong vòng 2 ngày.
- Hiện nay, với sự tiến bộ của chẩn đoán hình ảnh và chuyên khoa thần kinh, nhiều trường hợp được chẩn đoán TIA nhưng thực chất là đột quỵ não với các vùng thiếu máu não trên phim chụp. Vì vậy, định nghĩa TIA dựa trên cơ chế sinh lý bệnh hơn là dựa vào thời gian khởi phát và phục hồi triệu chứng.
Cận lâm sàng
Chụp cắt lớp vi tính sọ não
- Theo khuyến cáo năm 2019 của Hội tim mạch và đột quỵ Hoa Kỳ, chụp cắt lớp vi t nh đóng vai trò là công cụ hình ảnh quan trọng nhất trong thăm khám ban đầu ở bệnh nhân đột quỵ não nhằm phân biệt tổn thương thiếu máu và chảy máu, đồng thời xác định mức độ tổn thương và vị trí mạch tắc với kỹ thuật đa dạng. Đây là phương pháp có thể thực hiện nhanh chóng, thuận tiện và phổ biến cao, phù hợp với tính chất và yêu cầu trong cấp cứu đột quỵ não.
- Chụp cắt lớp vi tính không tiêm thuốc trước hết giúp loại trừ tổn thương chảy máu, sau đó đánh giá mức độ nặng của tổn thương thiếu máu thông qua thang điểm ASPECTS với vòng tuần hoàn trước và Pc-ASPECTS với vòng tuần hoàn sau. Các dấu hiệu tổn thương nhu mô thường gặp là giảm tỷ trọng các nhân xám, xóa ranh giới chất trắng-chất xám hoặc tăng đậm của huyết khối tại vị trí động mạch tắc.
- Chụp MSCT mạch máu (CTA) não giúp chẩn đoán chính xác vị trí động mạch tắc, từ đó quyết định phương pháp điều trị lấy huyết khối. Ngoài ra, nhiều ứng dụng hiện đại trong MSCT như chụp cắt lớp vi tính nhiều pha, đánh giá tính thấm thành mạch và chụp tưới máu não giúp bổ sung các thông tin cần thiết, xác định một số yếu tố nguy cơ, tiên lượng khả năng chảy máu, cũng như tính toán thể tích vùng lõi nhồi máu và thể tích vùng nguy cơ nhằm mở rộng cửa sổ điều trị cho các bệnh nhân đến viện sau cửa sổ điều trị thông thường (6 tiếng với tắc mạch vòng tuần hoàn trước và 8 tiếng với tắc mạch vòng tuần hoàn sau).
Chụp cộng hưởng từ (MRI) não
- Là kỹ thuật hiện đại, cung cấp nhiều thông tin bổ sung ở bệnh nhân đột quỵ.
- Có thể phát hiện tổn thương thiếu máu hay chảy máu não ngay ở giai đoạn rất sớm sau đột quỵ.
- Đánh giá chi tiết các cấu trúc giải phẫu của não nhờ độ phân giải không gian tốt.
- Không được trang bị ở mọi cơ sở y tế.
- Thời gian chụp kéo dài, chất lượng hình ảnh bị ảnh hưởng nếu bệnh nhân kích thích trong bệnh cảnh đột quỵ não.
- Một số bệnh nhân không chụp được MRI do có chống chỉ định (mang máy tạo nhịp vĩnh viễn, van cơ học).
Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác
- Siêu âm Doppler xuyên sọ là phương tiện hữu ích để khảo sát các mạch máu đoạn gần trong sọ, bao gồm động mạch não giữa, động mạch cảnh đoạn trong sọ và động mạch sống nền.
- Siêu âm tim được chỉ định khi nghi ngờ nguồn gốc thuyên tắc từ tim gây tắc mạch.
- Chụp XQ ngực có giá trị trong bối cảnh đột quỵ cấp; tuy nhiên cần bảo đảm không ảnh hưởng đến thời điểm chỉ định thuốc tiêu sợi huyết.
- Chụp động mạch não qua da giúp làm rõ các dấu hiệu nghi ngờ về tổn thương mạch hoặc hỗ trợ xác định vị trí tổn thương để tiến hành can thiệp/điều trị.
Xét nghiệm máu
- Troponin tim: nhằm phát hiện nhồi máu cơ tim không ST chênh.
- Xét nghiệm độc chất: khi nghi ngờ bệnh nhân có biểu hiện giả đột quỵ và để phát hiện chất gây cường giao cảm (cocain) có thể liên quan đến đột quỵ.
- Xét nghiệm lipid máu lúc đói.
- Máu lắng.
- Thử thai.
- Kháng thể kháng nhân.
- Yếu tố dạng thấp.
- Nồng độ homocystein máu.
- Xét nghiệm giang mai (RPR).
ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc điều trị
- Khi nhận diện bệnh nhân đột quỵ, cấp cứu 115 cần nhanh chóng vận chuyển người bệnh đến cơ sở y tế có máy chụp CT sọ não và có khả năng điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết nhằm tạo cơ hội tốt nhất cho bệnh nhân đột quỵ.
- Đột quỵ là cấp cứu ưu tiên, đòi hỏi nhân viên y tế phải đáp ứng nhanh chóng. Người trực tiếp tiếp nhận cuộc gọi cấp cứu cần hỏi bệnh ngắn gọn và thu thập kịp thời các thông tin quan trọng như thời điểm khởi phát triệu chứng, thời điểm gần nhất nhìn thấy bệnh nhân bình thường, tiền sử bệnh, mức đường huyết, đồng thời thông báo cho người chịu trách nhiệm để chuẩn bị các phương án phù hợp.
- Mục tiêu cốt lõi của xử trí và điều trị đột quỵ thiếu máu não cấp là bảo tồn nhu mô não ở vùng giảm tưới máu nhưng còn có thể hồi phục (vùng có nguy cơ hoại tử). Tế bào thần kinh tại vùng này có thể được cứu vãn bằng cách khôi phục dòng máu và tối ưu hóa tuần hoàn bàng hệ khu vực bị tổn thương. Do đó, chiến lược tái tưới máu phải được triển khai nhanh chóng, bao gồm sử dụng chất kích hoạt plasminogen mô đường tĩnh mạch (rt-PA) và các can thiệp theo đường động mạch nhằm mục tiêu tái thông mạch máu, qua đó cứu sống tế bào trong “vùng tranh tối tranh sáng” trước khi tổn thương trở nên không hồi phục.
- Đồng thời cần áp dụng chiến lược làm giảm mức độ nghiêm trọng của tổn thương não và bảo vệ tế bào thần kinh. Các biện pháp bảo vệ thần kinh nhằm bảo tồn nhu mô não tại vùng nguy cơ và mở rộng cửa sổ thời gian cho các kỹ thuật tái thông mạch. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại chưa có phương pháp bảo vệ thần kinh nào được chứng minh thực sự hiệu quả.
Đánh giá tình trạng hô hâp, tuần hoàn
- Trong quá trình xử trí đột quỵ, cần đánh giá đường thở, hô hấp và tuần hoàn theo các bước ABC ( A: airway, B: breathing, C: circulation).
- Ổn định tình trạng người bệnh.
- Hoàn thành chẩn đoán và đánh giá ban đầu, bao gồm chẩn đoán hình ảnh và xét nghiệm cận lâm sàng càng sớm càng tốt (thường không quá 60 phút) sau khi tiếp nhận bệnh nhân.
Bổ sung oxy
- Chỉ định thở oxy qua sonde mũi với cung lượng thấp khoảng 2 L/phút khi bệnh nhân có khó thở, da niêm mạc xanh tái, tím hoặc độ bão hòa oxy SaO 2 <95%.
Kiểm soát đường máu
- Cần thực hiện xét nghiệm đường máu mao mạch tại giường ngay khi tiếp nhận cấp cứu.
- Nếu nghi ngờ hạ đường huyết mà chưa có kết quả xét nghiệm, có thể tiêm/truyền tĩnh mạch 50ml glucoza ưu trương.
- Tăng đường huyết nặng có liên quan độc lập với tiên lượng xấu và làm giảm kết quả tái tưới máu bằng thuốc tiêu sợi huyết, đồng thời có thể làm lan rộng khu vực nhồi máu.
Kiểm soát huyết áp
Nếu bệnh nhân có tăng huyết áp (<72h từ khi phát hiện đột quỵ)
- Hạ HA tâm thu < 185 mmHg và HA tâm trương < 110 mmHg trước khi dùng thuốc tiêu sợi huyết.
- Duy trì HA <180/105 mmHg trong 24h đầu tiên sau điều trị bằng thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch.
- Nếu HA <= 220/110 mmHg: bắt đầu điều trị hoặc điều trị lại trong thời gian 48-72h hoặc sau khi các triệu chứng thần kinh ổn định.
- Nếu HA > 220/110 mmHg: giảm 15% trị số HA trong 24h đầu tiên.
| Các thuốc hạ huyết áp thường dùng theo đường tĩnh mạch |
|---|
| Labetalol 10 to 20 mg truyền TM 1-2 phút, có thể nhắc lại 1 lần. |
| Nicardipine 5 mg/h truyền TM; điều chỉnh liều 2.5 mg/h mỗi 5-15 phút, tối đa 15 mg/h cho đến khi đạt HA mục tiêu; điều chỉnh liều để duy trì HA trong giới hạn phù hợp. |
| Clevidipine 1-2 mg/h truyền TM; điều chỉnh liều tăng gấp đôi mỗi 2-5 phút, tối đa 21 mg/h cho đến khi đạt HA mục tiêu (khuyến cáo 2018 cho đột quỵ thiếu máu não). |
| Nếu HA không kiểm soát được hoặc HA tâm trương >140 mmHg: chỉ định truyền tĩnh mạch sodium nitroprusside. |
| Các thuốc khác (hydralazine, enalaprilat...) đều có thể sử dụng. |
Xem thêm: Tiếp cận tăng huyết áp cấp cứu
Nếu bệnh nhân bị tụt huyết áp (HATT < 90 mmHg hoặc thấp hơn 30 mmHg so với huyết áp nền)
- Truyền dung dịch đẳng trương theo áp lực tĩnh mạch trung tâm khi bệnh nhân mất nước, thiếu dịch.
- Khi đã đủ khối lượng tuần hoàn mà huyết áp vẫn không được cải thiện thì sử dụng các thuốc vận mạch như Dubutamin và/hoặc Noradrenalin.
Tái tưới máu bằng thuốc tiêu sợi huyết và/hoặc bằng dụng cụ trong lòng mạch
Điều trị với thuốc kháng kết tập tiểu cầu
- Hướng dẫn của AHA/ASA khuyến cáo dùng aspirin liều 81 - 325 mg trong vòng 24 – 48h kể từ khi bắt đầu đột quỵ do thiếu máu não.
- Lợi ích của aspirin được ghi nhận là khiêm tốn nhưng có ý nghĩa thống kê, chủ yếu liên quan đến giảm đột quỵ tái phát.
Kiểm soát thân nhiệt
- Tăng thân nhiệt không thường xuyên ở bệnh nhân đột quỵ, tuy nhiên có thể làm tăng tỷ lệ tử vong.
- Nếu bệnh nhân sốt > 38° C thì dùng acetaminophen theo đường uống hoặc viên đặt hậu môn. Trường hợp bệnh nhân không uống được hoặc không có acetaminophen đặt trực tràng thì dùng Paracetamol truyền tĩnh mạch.
- Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy hạ thân nhiệt nhẹ có tác dụng bảo vệ thần kinh. Việc ứng dụng hạ thân nhiệt hiện đang được đánh giá trong giai đoạn II các thử nghiệm lâm sàng.
Chống phù não
- Truyền dung dịch Manitol ngắt quãng.
- Phẫu thuật mở sọ giảm áp ở những bệnh nhân nhồi máu lớn có phù não đe dọa tính mạng.
- Ở những bệnh nhân không có chống chỉ định và phù hợp, mở sọ giải áp có thể mang lại lợi ích, đặc biệt ở bệnh nhân trẻ tuổi; đồng thời cần cân nhắc thật kĩ đối với bệnh nhân trên 60 tuổi.
- Theo dõi và nhận diện các dấu hiệu, triệu chứng lâm sàng của phù não như suy giảm ý thức hoặc nặng hơn như tụt kẹt não, thay đổi kích thước đồng tử.
- Phù não do nhồi máu não gây rối loạn ý thức với chèn ép não: mất phản xạ giác mạc, đồng tử co nhỏ.
- Đối với bệnh nhân phù não do nhồi máu trên lều bán cầu não (supratentorial hemispheric ischemic strocke): không nhất thiết phải theo dõi áp lực nội sọ. Không chỉ định thường quy hoặc chọc dịch não tủy; tuy nhiên nếu tình trạng tiếp tục xấu đi về chức năng thần kinh thì nên mở sọ giải áp.
- Phù não do đột quỵ tiểu não kèm suy giảm chức năng thần kinh: chỉ định phẫu thuật mở sọ và mở màng cứng.
- Sau nhồi máu tiểu não, phẫu thuật dẫn lưu não thất nhằm làm giảm áp lực dịch não tủy do tắc nghẽn phải được phối hợp với phẫu thuật mở sọ.
Chống động kinh
- Động kinh có thể xuất hiện ở 2 - 23% bệnh nhân trong những ngày đầu sau đột quỵ thiếu máu não; đa số là động kinh cục bộ, tuy nhiên cũng có thể gặp các cơn toàn thể.
- Mặc dù không có chỉ định điều trị dự phòng tiên phát cơn động kinh sau đột quỵ, nhưng cần chủ động ngăn ngừa các cơn động kinh tiếp theo bằng thuốc chống động kinh.
- Một bộ phận nhỏ bệnh nhân đột quỵ tiến triển thành động kinh mạn tính. Trường hợp động kinh thứ phát sau đột quỵ thiếu máu não cần được xử trí theo nguyên tắc tương tự như đối với động kinh do tổn thương thần kinh.
Thuốc chống đông máu và dự phòng huyết khối
- Nếu đột quỵ do thuyên tắc (ví dụ rung nhĩ) có thể cân nhắc điều trị bằng thuốc chống đông nhằm mục tiêu phòng ngừa các biến cố tắc mạch; tuy nhiên phải đánh giá nguy cơ xuất huyết chuyển dạng trước khi chỉ định.
- Enoxaparin thường được sử dụng với liều điều trị là 1mg/kg/12h trong trường hợp chức năng thận bình thường. Đối với dự phòng huyết khối tĩnh mạch chi dưới, liều Enoxaparin là 40mg/24h.
- Xoa bóp chi dưới nên được thực hiện ngay trong 3 ngày đầu nằm viện để giảm nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu ở bệnh nhân nằm lâu do đột quỵ cấp tính.
Bảo vệ tế bào thần kinh
- Cơ sở của việc sử dụng các thuốc bảo vệ thần kinh là nhằm giảm giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh bị kích thích bởi các tế bào thần kinh tại vùng não thiếu máu, qua đó tăng cường khả năng sống sót của các tế bào thần kinh này. Dù một số nghiên cứu trên động vật cho kết quả rất đáng khích lệ, hiện chưa có bất kỳ thuốc bảo vệ thần kinh nào được ủng hộ bởi các nghiên cứu ngẫu nhiên, có đối chứng giả dược. Tuy vậy, hiện vẫn đang triển khai một khối lượng lớn nghiên cứu để đánh giá các chiến lược bảo vệ thần kinh khác nhau.
- Hạ thân nhiệt được xem là biện pháp có triển vọng trong điều trị bệnh nhân sống sót sau ngừng tim do nhịp nhanh thất hoặc rung thất; tuy nhiên, chưa có nghiên cứu lâm sàng lớn chứng minh vai trò của hạ thân nhiệt trong điều trị sớm đột quỵ não do thiếu máu.
Theo dõi
- Trong quá trình theo dõi và điều trị, cần lưu ý rằng bệnh nhân có thể đột ngột diễn tiến nặng lên với biểu hiện suy giảm nhanh chóng chức năng thần kinh hoặc tình trạng tuần hoàn, hô hấp suy sụp đột ngột.
- Thầy thuốc cần đánh giá bệnh nhân theo từng bước, bám sát quy tắc ABC, đồng thời hỗ trợ tuần hoàn và hô hấp; nếu có thể, nên chỉ định chụp cắt lớp (CT) hoặc chụp MRI để đánh giá tiến triển ổ nhồi máu cũng như phù não có thể xảy ra.
Tham vấn và hội chẩn
- Nên tổ chức một nhóm chuyên sâu về đột quỵ hoặc có ít nhất một chuyên gia giàu kinh nghiệm sẵn sàng có mặt trong vòng 15 phút sau khi bệnh nhân vào viện. Hình thức tham vấn, hội chẩn sẽ được điều chỉnh theo từng bệnh nhân cụ thể. Đồng thời, cần thực hiện sớm liệu pháp vật lý trị liệu, ngôn ngữ trị liệu và phục hồi chức năng; các tư vấn này nên được tiến hành trong ngày đầu tiên bệnh nhân nhập viện.
- Hội chẩn tư vấn về tim mạch, phẫu thuật mạch máu hoặc phẫu thuật thần kinh có thể được cân nhắc dựa trên kết quả siêu âm Doppler động mạch cảnh, chẩn đoán hình ảnh, siêu âm tim qua thành ngực và thực quản, cũng như thăm khám lâm sàng.
Dinh dưỡng
- Đột quỵ thiếu máu cục bộ có liên quan đến chứng sa sút trí tuệ do nguyên nhân mạch não. Những người sống sót sau đột quỵ có tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ gần gấp đôi so với dân số nói chung.
- Theo một nghiên cứu năm 2018, bệnh nhân có thể nhận được lợi ích khi tuân thủ chế độ ăn Địa Trung Hải (DASH). Chế độ ăn uống cũng có thể góp phần giúp ngăn ngừa tình trạng mất trí nhớ ở bệnh nhân đột quỵ.
- Theo khuyến nghị từ các chuyên gia dinh dưỡng, nên duy trì chế độ ăn có ít nhất ba phần tinh bột mỗi ngày và sáu phần rau xanh và hai phần trái cây mỗi tuần; khuyến khích sử dụng thường xuyên các loại rau, cá, thịt gia cầm, đậu và các loại hạt khác; hạn chế ăn thịt đỏ, thức ăn nhanh, phô mai, bơ.
TIÊN LƯỢNG
- Trong các nghiên cứu đột quỵ Framingham và Rochester, tỷ lệ tử vong chung ở 30 ngày sau đột quỵ là 28%, tỷ lệ tử vong ở 30 ngày sau nhồi máu não là 19% và tỷ lệ sống sót sau 1 năm ở bệnh nhân nhồi máu não là 77%. Tuy nhiên, tiên lượng sau nhồi máu không đồng nhất giữa các bệnh nhân, phụ thuộc vào mức độ nhồi máu, các bệnh lý kèm theo, tuổi và các biến chứng sau nhồi máu.
- Những yếu tố chính làm tăng nguy cơ tử vong sớm sau nhồi máu gồm: tuổi, điểm NIHSS cao, điểm Rankin sửa đổi > 0, tiền sử có bệnh tim và tiểu đường.
- Nhồi máu não do suy tim cấp và rối loạn nhịp tim có tiên lượng xấu sau 3 tháng điều trị. Tăng đường huyết nặng có liên quan độc lập với tiên lượng xấu và làm giảm kết quả tái tưới máu bằng thuốc tiêu sợi huyết, đồng thời góp phần làm lan rộng vùng nhồi máu.
Tài liệu tham khảo
- Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí đột quỵ não. Số 5331/QĐ-BYT. Ngày 23/12/2020. Bộ Y Tế/