Ngộ độc cấp Amphetamin

Post key: bc2fb2b4-6a36-5423-893b-3b2c877225b9
Slug: ngo-doc-cap-amphetamin
Excerpt: Bài viết hướng dẫn chẩn đoán và xử trí ngộ độc cấp do amphetamin (và các dẫn xuất chất kích thích/ảo giác như methamphetamin, MDMA, PMA). Chẩn đoán dựa vào hoàn cảnh phơi nhiễm, hội chứng cường giao cảm (triệu chứng thần kinh trung ương: kích thích, mất ngủ, co giật, hôn mê; ngoại vi: vã mồ hôi, run, tăng trương lực cơ, nhịp nhanh, tăng huyết áp; biến chứng: tăng thân nhiệt, xuất huyết não, nhồi máu cơ tim, tiêu cơ vân, suy thận, DIC) và/hoặc hội chứng serotonin. Cận lâm sàng gồm ĐGĐ, chức năng thận, CK/CKMB, troponin, xét nghiệm nước tiểu và điện tim; xét nghiệm đặc hiệu phát hiện amphetamin/dẫn chất trong nước tiểu. Điều trị ưu tiên hồi sức: bảo đảm đường thở–thông khí, kiểm soát kích thích/co giật/tăng thân nhiệt bằng benzodiazepin; điều trị tăng huyết áp bằng thuốc an thần, nếu không đáp ứng có thể dùng thuốc giãn mạch ngoại vi (phentolamin/nitroprussid); xử trí nhịp nhanh bằng propranolol hoặc esmolol. Than hoạt cân nhắc theo lượng uống; rửa ruột toàn bộ chỉ khi nghi ngờ uống lượng lớn để vận chuyển ma túy. Không có thuốc giải độc đặc hiệu; lọc máu qua cột than hoạt không hiệu quả; axit hóa nước tiểu không khuyến cáo do nguy cơ làm nặng tiêu cơ vân/tổn thương thận. Kết cục thường hồi phục hoàn toàn nếu không có biến chứng; cần dự phòng biến chứng và phòng chống lạm dụng ma túy.
Recognized tags: chan-doan, dieu-tri, cap-cuu, theo-doi, xet-nghiem, bo-y-te

GIỚI THIỆU

Edeleano là người đầu tiên mô tả việc tổng hợp amphetamin vào năm 1887. Tuy nhiên, phải đến những năm 1920, trong quá trình nghiên cứu thuốc điều trị bệnh hen, Alles phát hiện ra dextroamphetamin và Ogata ghi nhận methamphetamin, sau đó amphetamin được đưa vào sử dụng trên lâm sàng.
  • Amphetamin có trong một số thuốc như Benzphetamine, Diethylpropion, Phendimetrazine, Phenmetrazine và Phentermine, các thuốc này có tác dụng gây chán ăn và được dùng để điều trị béo phì.
  • Dextroamphetamin (Dexedrine) và methylphenidat (Ritalin) được dùng trong điều trị rối loạn giấc ngủ và giảm tập trung ở trẻ em.
  • Các chất kích thích về sau được sử dụng rộng rãi, làm xuất hiện nhiều hình thức lạm dụng khác nhau. Việc lạm dụng thuốc kích thích đã được ghi nhận từ năm 1936 và dẫn đến lệnh cấm của cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ vào năm 1959. Trong những năm 1960, các dẫn xuất amphetamin khác nhau như methylenedioxyamphetamin (MDA) và para-methoxyamphetamin (PMA) trở nên phổ biến như chất gây ảo giác. Đạo luật kiểm soát chất gây nghiện của Mỹ năm 1970 xếp các chất kích thích vào nhóm ma túy. Trong những năm 1980, ma túy tổng hợp—đặc biệt là các dẫn xuất methylenedioxy amphetamin và methamphetamin—trở nên rất thịnh hành, trong đó phổ biến nhất là 3,4 - methylen dioxymethamphetamin (MDMA) và 3,4 methylenedioxyethamphetamin (MDEA).
  • Amphetamin, methamphetamin, MDMA (thuốc lắc), paramethoxyamphetamin (PMA) và một số dẫn xuất khác của amphetamin hiện nay là các ma túy tổng hợp có tác dụng kích thích và gây ảo giác được sử dụng phổ biến nhất.

CƠ CHẾ NGỘ ĐỘC

  • Amphetamin có tác dụng kích thích, làm giải phóng catecholamin—đặc biệt là dopamin và norepinephrin—tại đầu tận thần kinh; đồng thời ức chế tái hấp thu catecholamin và ức chế monoamine oxidase. Các amphetamines đặc biệt như MDMA, PMA, fenfluramin và dexfenfluramin cũng gây giải phóng serotonin và ức chế tái hấp thu serotonin tại synap thần kinh.

DƯỢC ĐỘNG HỌC

  • Các chất này được hấp thu tốt qua đường uống và có thể tích phân bố lớn (Vd = 3–33 L/kg), chuyển hóa chủ yếu tại gan. Thải trừ của đa số amphetamin phụ thuộc vào pH niệu: pH niệu axit làm amphetamin được đào thải nhanh hơn.

NGUYÊN NHÂN

  • Thường do lạm dụng ma túy tổng hợp.

CHẨN ĐOÁN

Lâm sàng

Việc chẩn đoán dựa vào khai thác bệnh sử (có dùng amphetamin) kèm theo triệu chứng lâm sàng phù hợp với hội chứng ngộ độc thuốc cường giao cảm.
  • Triệu chứng thần kinh trung ương: nói nhiều, lo âu, mất ngủ, kích thích, co giật và hôn mê. Có thể gặp xuất huyết não do tăng huyết áp hoặc do viêm mạch.
  • Biểu hiện ngoại vi cấp: vã mồ hôi, run, tăng trương lực cơ, nhịp nhanh, tăng huyết áp; nhồi máu cơ tim cấp (kể cả trong trường hợp mạch vành bình thường). Nếu tiêm nhầm vào động mạch gây co mạch có thể dẫn đến hoại tử.
  • Tử vong có thể do nhịp nhanh thất, co giật, xuất huyết não hoặc tăng thân nhiệt. Tăng thân nhiệt là hậu quả của co giật và tăng vận cơ quá mức, có thể gây tổn thương não, tiêu cơ vân và suy thận.
  • Hội chứng serotonin: rung giật cơ, máy cơ, kích thích, vã mồ hôi, rung giật nhãn cầu, tăng phản xạ gân xương đặc biệt ở chi dưới, tăng trương lực cơ và tăng thân nhiệt.
  • Lạm dụng/ dùng kéo dài amphetamin gây sút cân, bệnh cơ tim, tăng áp động mạch phổi; kèm các động tác lập lại (như cào trên da), hoang tưởng, tâm thần. Các rối loạn tâm thần có thể kéo dài nhiều ngày hoặc hàng tuần. Sau khi ngừng thuốc: bệnh nhân mệt mỏi, ngủ nhiều, ăn nhiều và trầm cảm kéo dài nhiều ngày.
  • Thời gian xuất hiện triệu chứng: sau uống là 1 giờ; trong vòng vài phút nếu dùng đường tiêm. Thời gian tác dụng kéo dài 2 tới 12 giờ với liều thông thường; nếu dùng liều lớn có thể kéo dài tới 48 giờ.

Mức độ nặng của ngộ độc

Mức độ nhẹ Mức độ trung bình Mức độ nặng
Sảng khoái Kích thích Tăng thân nhiệt
Tăng tỉnh thức Hoang tưởng Toan chuyển hóa
Nghiến răng Ảo giác Tiêu cơ vân
Thay đổi tính tình Vã mồ hôi Suy thận cấp
Nhịp nhanh Đau bụng Tăng Kali máu
Tăng huyết áp Hồi hộp trống ngực Giảm huyết áp
Đau ngực DIC, tử vong

Cận lâm sàng

  • Xét nghiệm đặc hiệu: amphetamin và các dẫn chất được phát hiện trong nước tiểu, giúp chẩn đoán xác định. Không có mối liên quan giữa nồng độ amphetamin huyết thanh với mức độ nặng trên lâm sàng, vì vậy thường không định lượng amphetamin máu. Các dẫn xuất của amphetamin và các amin adrenergic có thể phản ứng chéo khi làm bằng phương pháp miễn dịch; do đó cần làm thêm các xét nghiệm khác như sắc ký lớp mỏng, sắc ký khí khối phổ để chẩn đoán.
  • Xét nghiệm khác: ĐGĐ, glucose máu, ure, creatinin, CK, CKMB, troponin T, tổng phân tích nước tiểu và đông máu cơ bản. Điện tim 12 chuyển đạo và mắc monitor theo dõi điện tim. Chụp CT sọ não nếu nghi ngờ xuất huyết não. Siêu âm tim và đặt catheter động mạch phổi trong trường hợp nghi ngờ bệnh van tim và tăng áp mạch phổi.

Chẩn đoán xác định

Dựa vào hoàn cảnh sau dùng ma túy tổng hợp, lâm sàng có hội chứng adrenergic, đồng thời xét nghiệm cho thấy amphetamin trong nước tiểu.

Chẩn đoán phân biệt

  • Ngộ độc các ma túy tổng hợp khác.

ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc điều trị

  • Hồi sức là biện pháp điều trị cơ bản.
  • Không có thuốc giải độc đặc hiệu.

Cấp cứu và các biện pháp hồi sức

  • Khai thông đường thở và tiến hành thông khí nhân tạo nếu cần thiết.
  • Điều trị kích thích, co giật, hôn mê và tăng thân nhiệt. Benzodiazepin có hiệu quả tốt trong điều trị chống co giật; ngoài ra có thể sử dụng các butyrophenon (Haloperidol và Droperidol).
  • Theo dõi liên tục thân nhiệt, điện tim và các dấu hiệu sinh tồn khác trong ít nhất là 6 giờ.
  • Điều trị tăng huyết áp: ưu tiên dùng thuốc an thần; nếu không đạt hiệu quả có thể dùng thuốc giãn mạch ngoại vi như phentolamin hoặc nitroprussid.
  • Điều trị các cơn nhịp nhanh bằng propranolol hoặc esmolol.

Các biện pháp khác

  • Than hoạt và rửa dạ dày không cần thiết nếu bệnh nhân uống một lượng nhỏ hoặc trung bình.
  • Rửa ruột toàn bộ được cân nhắc khi có uống với mục đích vận chuyển ma túy (số lượng lớn).
  • Thuốc giải độc đặc hiệu: không có.
  • Tăng thải trừ: lọc máu ngắt quãng và lọc máu qua cột than hoạt không hiệu quả.
  • Axit hóa nước tiểu làm tăng thải trừ dextroamphetamin nhưng không được khuyến cáo do nguy cơ làm nặng tiêu cơ vân và tổn thương thận.

TIÊN LƯỢNG VÀ BIẾN CHỨNG

  • Hồi phục hoàn toàn nếu không có biến chứng.
  • Việc dùng ma túy tổng hợp có thể dẫn đến nhiều vấn đề về tâm thần.

PHÒNG BỆNH

  • Tăng cường truyền thông giáo dục nhằm phòng chống ma túy.

Tài liệu tham khảo

  1. Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí ngộ độc. Bộ Y Tế. 31/08/2015