Ngôi vai

Post key: bcc2ef64-bf97-5f18-b1a2-9583e807d837
Slug: ngoi-vai
Excerpt: Ngôi vai là tư thế thai nằm ngang trong tử cung (không theo trục dọc); khi chuyển dạ vai trình diện trước eo trên và mốc là mỏm vai. Ngôi vai không có cơ chế đẻ; vì vậy cần nhận diện và xử trí theo hướng dẫn chẩn đoán–điều trị. Chẩn đoán: - Trước chuyển dạ: tiền sử có thể chửa đẻ nhiều lần/đã từng ngôi vai; tử cung bè ngang; nắn không thấy đầu hay mông ở tiểu khung; một bên sờ thấy đầu (khối tròn cứng bập bềnh) và bên còn lại sờ thấy mông (khối to hơn đầu, chỗ cứng chỗ mềm); lưng phẳng hoặc lổn nhổn chi tùy vị trí; nghe tim thai rõ tại vị trí sờ thấy mỏm vai (thường rõ khi lưng ở phía trước); thăm âm đạo tiểu khung rỗng; siêu âm xác nhận thai nằm ngang. - Khi chuyển dạ: thăm khám tương tự nhưng khó hơn do cơn co; khi ối chưa vỡ có ối phồng và tiểu khung rỗng, cần thăm khám nhẹ để tránh ối vỡ sớm; khi ối đã vỡ sờ mỏm vai, các xương sườn và hố nách; vai ở bên nào thì đầu ở bên đó. - Chẩn đoán kiểu thế: dựa vào đầu và lưng hoặc vai và lưng (ví dụ: vai–chậu–trái–trước; vai–chậu–phải–sau…). Nếu tay thai sa ngoài âm đạo/âm hộ, dựa vào tay (dấu ngón tay cái) để xác định tay trái/phải. - Chẩn đoán phân biệt: ngôi đầu sa chi (phải tìm đầu ở eo trên), và ngôi ngược hoàn toàn (dễ nhầm mỏm vai nhưng không có hỏm nách và xương sườn như ngôi vai).
Recognized tags: chan-doan, dieu-tri, du-phong, bo-y-te

GIỚI THIỆU

Ngôi vai là tình huống thai không nằm theo trục dọc mà nằm ngang trong lòng tử cung.

  • Trong ngôi vai, hai cực thai không nhất thiết đối xứng theo cùng một mặt phẳng: có thể một cực nằm ở hố chậu trong khi cực còn lại nằm ở vùng hạ sườn.
  • Khi chuyển dạ thực sự, vai sẽ trình diện trước eo trên.
  • Mốc xác định của ngôi vai là mỏm vai.
  • Ngôi vai không có cơ chế đẻ khi thai sống đủ tháng, do đó không có cơ chế đẻ.

CHẨN ĐOÁN

Khi chưa chuyển dạ

  • Khai thác tiền sử sản khoa: chửa đẻ nhiều lần và đã từng có lần thai trước ở ngôi vai.
  • Nhìn tử cung bè ngang.
  • Nắn các cực ở tiểu khung: tiểu khung rỗng, không thấy cực đầu cũng như cực mông. Nắn hai bên: một bên xác định được cực đầu (khối tròn, cứng, bập bềnh), phía vùng sườn hoặc hố chậu bên đối diện xác định được cực mông (khối tròn không đều, to hơn đầu, có chỗ cứng chỗ mềm). Khi nắn giữa hai cực đầu và mông sẽ thấy lưng là một diện phẳng (nếu lưng ở phía trước) hoặc thấy lổn nhổn các chi (nếu lưng ở phía sau).
  • Nghe tim thai: vị trí nghe tim thai phụ thuộc vào vị trí cực đầu, tương ứng với nơi sờ thấy mỏm vai. Tim thai sẽ nghe rõ nếu lưng nằm ở phía trước.
  • Thăm khám âm đạo: tiểu khung rỗng.
  • Siêu âm: xác nhận thai nằm ngang.

Khi chuyển dạ

Hỏi tiền sử, quan sát và sờ nắn tương tự như khi có thai, tuy nhiên thăm khám khó hơn do sự xuất hiện cơn co tử cung.

Thăm âm đạo:

  • Khi ối chưa vỡ: nhận thấy ối phồng, tiểu khung rỗng; cần thăm khám nhẹ nhàng để tránh làm ối vỡ sớm.
  • Khi ối đã vỡ: sờ thấy mỏm vai, các xương sườn và hố nách; vai ở bên nào thì đầu ở bên đó.

Chẩn đoán kiểu thế

  • Vai - chậu - trái - trước.
  • Vai - chậu - phải - trước.
  • Vai - chậu - phải - sau.
  • Vai - chậu - trái - sau.

Chẩn đoán kiểu thế dựa trên hai yếu tố: đầu và lưng hoặc vai và lưng. Ví dụ: nếu đầu trái, lưng trước thì kiểu thế là vai - chậu – trái – trước.

Trong trường hợp tay thai nhi sa ra ngoài âm đạo hay ngoài âm hộ, xác định kiểu thế dựa trên bàn tay. Dấu hiệu ngón tay cái: đặt bàn tay thai nhi ngửa, ngón tay cái chỉ vào đùi mẹ; nếu đùi mẹ là đùi trái thì tay thai nhi là tay trái, nếu đùi mẹ là đùi phải thì tay thai nhi là tay phải.

Chẩn đoán phân biệt

  1. Ngôi đầu sa chi: ngôi đầu thường cao. Khi sờ thấy tay thai nhi bị sa, cần kiểm tra xem ở eo trên có đầu hay không. Đối với ngôi vai, không sờ thấy đầu thai nhi ở eo trên.
  2. Ngôi ngược hoàn toàn: có thể sờ thấy đỉnh xương cùng dễ nhầm với mỏm vai, nhưng không tìm thấy hỏm nách và các xương sườn như trong ngôi vai.

XỬ TRÍ

Trong khi có thai

  • Thai phụ cần được khám định kỳ trong 3 tháng cuối. Khi phát hiện ngôi vai, cần khuyên thai phụ nằm nghỉ ngơi vào tháng cuối để đề phòng ối vỡ non, ối vở sớm.

Trong khi chuyển dạ

  • Thai đủ tháng hoặc gần đủ tháng, còn sống: mổ lấy thai ngay để đề phòng vỡ ối sa dây rau, sa tay.
  • Nội xoay thai chỉ thực hiện ở những thai nhỏ và ngôi thứ hai của song thai.
  • Nếu thai đã chết: ngày nay chủ yếu mổ lấy thai; chỉ cắt thai trong những trường hợp điều kiện thủ thuật thuận lợi.

PHÒNG BỆNH

  • Thực hiện khám thai và quản lý thai nghén tốt. Khi phát hiện ngôi vai, cần chuyển thai phụ đến trung tâm sản khoa có thể mổ lấy thai.
  • Khi thai đủ tháng, nên mổ lấy thai chủ động để đề phòng các biến chứng cho mẹ và cho thai.
  • Những bác sỹ có kinh nghiệm mới nên mổ lấy thai trong ngôi ngang để tránh tai biến gãy tay, gãy chân thai nhi.

Tài liệu tham khảo

  1. Quyết định số 315/QĐ-BYT ngày 29/01/2015 của Bộ Y tế ban hành tài liệu chuyên môn: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh sản phụ khoa.