GIỚI THIỆU
Biến chứng giảm tiểu cầu do Heparin là tình trạng rối loạn tiểu cầu xảy ra sau khi điều trị bằng Heparin. Chẩn đoán được xác định khi số lượng tiểu cầu giảm (< 150.000/µl, hoặc giảm ≥ 50% so với trị số trước điều trị), và có thể kèm theo biến chứng huyết khối động mạch hoặc huyết khối tĩnh mạch.
Thời điểm xét nghiệm tiểu cầu: mỗi 2-3 ngày, bắt đầu từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 14, hoặc cho đến khi dừng Heparin.
CHUẨN ĐOÁN
- Đánh giá nguy cơ mắc HIT bằng thang điểm 4T.
- Xét nghiệm kháng thể kháng PFF4-Heparin ở các BN có xác suất lâm sàng cao hoặc trung bình bị HIT.
Bảng 4T đánh giá nguy cơ bị HIT
ĐIỀU TRỊ
- Ngừng mọi điều trị Heparin ở BN có nguy cơ cao hoặc trung bình.
- Chuyển sang thuốc chống đông thay thế: nhóm ức chế trực tiếp thrombin (argatroban, bivalirudin) hoặc nhóm Heparinoid (daparanoid, fondaparinux). Liều fondaparinux được sử dụng tương đương liều điều trị thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (hktm).
- Trì hoãn dùng kháng vitamin K cho đến khi số lượng tiểu cầu đã hồi phục (TC > 100.000 /µL).
- Tránh truyền tiểu cầu, trừ khi có chảy máu đe dọa tính mạng.
Tài liệu tham khảo
- Huyết khối tĩnh mạch. Hội Tim Mạch Việt Nam 2020