GIỚI THIỆU
Thai quá ngày sinh (thai sau sinh) được xác định khi thời gian thai kỳ kéo dài >42 tuần hoặc >294 ngày tính từ ngày đầu của kỳ kinh cuối cùng.
Nội dung then chốt là phải xác định được tuổi thai một cách chính xác dựa trên ngày đầu kỳ kinh cuối; trường hợp không xác định được hoặc cần hiệu chỉnh do độ tin cậy thấp thì sử dụng dữ liệu siêu âm trong 12 tuần đầu của thai kỳ.
CHẨN ĐOÁN
- Chẩn đoán dựa vào tuổi thai tính từ ngày đầu kỳ kinh cuối; tuổi thai này có giá trị khi vòng kinh bình thường.
- Chẩn đoán dựa vào siêu âm để xác định tuổi thai đối với thai trước 20 tuần trong trường hợp ngày đầu kỳ kinh cuối không xác định hoặc kinh không đều.
- Đồng thời đánh giá tình trạng thai và các phần phụ thai, bao gồm nước ối và rau.
XỬ TRÍ
Theo dõi
Chế độ theo dõi: 2 ngày/lần.
-
Siêu âm:
- Theo dõi lượng nước ối; thiểu ối là dấu hiệu gợi ý suy tuần hoàn rau–thai và nguy cơ thiếu oxy cho thai nhi.
- Theo dõi qua siêu âm các chỉ số: cử động thai (thân, chi, thở), nhịp tim thai, tình trạng rau và lượng nước ối.
- Monitoring tim thai được thực hiện bằng test không đả kích. Nếu test không đáp ứng thì tiến hành các test đả kích (vê núm vú, truyền oxytocin).
Gây chuyển dạ
Gây chuyển dạ:
thai 41 tuần, không chờ đến 42 tuần.
- Khi cổ tử cung thuận lợi (chỉ số Bishop > 5), thực hiện bấm ối và truyền oxytocin tĩnh mạch.
- Khi cổ tử cung không thuận lợi (Bishop < 5), tiến hành làm chín muồi cổ tử cung bằng prostaglandin hoặc các phương pháp khác.
- Prostaglandin: sử dụng Prostaglandin E2 (Dinoproston) dạng gel 2,5ml đặt vào ống cổ tử cung. Nếu sau 6 -12 tiếng, cổ tử cung vẫn chưa thuận lợi thì đặt lại liều 2.
- Phương pháp khác: nong cổ tử cung bằng ngón tay, chất hút ẩm, đặt bóng cổ tử cung.
Tài liệu tham khảo
- Quyết định số 315/QĐ-BYT ngày 29/01/2015 của Bộ Y tế ban hành tài liệu chuyên môn: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh sản phụ khoa