Chán ăn tâm thần

Post key: bfbaeb1c-2c4a-515d-bcaa-281a482d18d5
Slug: chan-an-tam-than
Excerpt: Chán ăn tâm thần (anorexia nervosa) là rối loạn tâm thần nặng biểu hiện bằng sụt cân có chủ đích, duy trì do tránh “thức ăn gây béo”, kèm sai lệch hình ảnh cơ thể (sợ béo dai dẳng) và có nguy cơ cao tự sát. Bài viết trình bày nguyên nhân đa yếu tố, tiêu chuẩn chẩn đoán xác định theo ICD-10 (lâm sàng và cận lâm sàng), chẩn đoán phân biệt với sụt cân do bệnh cơ thể và trầm cảm, cũng như nguyên tắc điều trị: phối hợp liệu pháp tâm lý với liệu pháp hoá dược (ưu tiên đơn trị liệu; khởi liều thấp tăng dần; hạn chế lạm dụng thuốc giải lo âu gây nghiện) và can thiệp dinh dưỡng, dự phòng biến chứng. Tài liệu tham khảo: Quyết định 2058/QĐ-BYT ngày 14/05/2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Recognized tags: chan-doan, dieu-tri, xet-nghiem, bo-y-te

GIỚI THIỆU

  • Chán ăn tâm thần là một rối loạn đặc trưng bởi sự sụt cân có chủ đích do chính người bệnh gây ra và duy trì.
  • Chán ăn tâm thần là một rối loạn tâm thần nặng; có mối liên quan với rối loạn ám ảnh, biểu hiện điển hình kèm trầm cảm và đi cùng nguy cơ tự sát cao.

NGUYÊN NHÂN

  • Nguyên nhân cốt lõi của chán ăn tâm thần hiện chưa được làm rõ hoàn toàn. Tuy vậy, các bằng chứng về cơ chế tương tác giữa các yếu tố sinh học – văn hóa – xã hội và mức độ dễ bị tổn thương của cấu trúc nhân cách tham gia vào quá trình bệnh lý đang được đặc biệt chú trọng.
  • Chán ăn tâm thần cũng có liên quan đến tình trạng kém dinh dưỡng với nhiều mức độ trầm trọng khác nhau, từ đó dẫn đến các biến đổi chuyển hóa, rối loạn nội tiết thứ phát và suy giảm/ rối loạn các chức năng cơ thể.

CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán xác định

Lâm sàng

Theo ICD-10
  • Duy trì cân nặng cơ thể ở mức ít nhất 15% thấp hơn cân nặng phải có (hoặc là giảm cân nặng hoặc là chưa bao giờ đạt tới). Đối với bệnh nhân trước tuổi dậy thì, biểu hiện là không đạt được cân nặng phải có trong thời kì lớn lên.
  • Sụt cân do người bệnh tự gây ra bằng cách tránh “các thức ăn gây béo” và do một hoặc nhiều hơn các biện pháp sau: tự gây nôn, dùng thuốc tẩy, luyện tập quá mức, dùng thuốc làm ăn mất ngon và thuốc lợi tiểu.
  • Hình ảnh thân thể bị méo mó dưới dạng một bệnh lý tâm thần đặc hiệu do sợ béo dai dẳng, biểu hiện như một ý tưởng xâm phạm quá đáng; đồng thời người bệnh tự đặt một ngưỡng cân nặng thấp cho bản thân.
  • Có một rối loạn nội tiết lan tỏa bao gồm trục dưới đồi – tuyến yên – tuyến sinh dục: ở phụ nữ là mất kinh; ở nam giới là mất thích thú và mất khả năng tình dục.
  • Nếu khởi phát trước tuổi dậy thì, các biểu hiện của thời kì dậy thì sẽ bị chậm lại hoặc ngừng lại (ngừng lớn; ở con gái vú không phát triển và mất kinh nguyệt nguyên phát; ở con trai bộ phận sinh dục vẫn như trẻ em). Khi phục hồi, hiện tượng dậy thì hoàn toàn bình thường nhưng kinh nguyệt muộn.

Cận lâm sàng

  • Xét nghiệm máu: huyết học, sinh hoá, vi sinh (HIV, VGB, VGC)
  • Xét nghiệm nước tiểu, xét nghiệm tìm chất ma tuý, huyết thanh chẩn đoán giang mai…
  • Xét nghiệm hormon sinh dục và phát triển (đánh giá hậu quả), xét nghiệm hormon tuyến giáp
  • Trắc nghiệm tâm lý: nhóm trắc nghiệm tâm lý đánh giá trầm cảm (Beck, Hamilton trầm cảm…), đánh giá lo âu (Zung, Hamilton lo âu…), đánh giá nhân cách (MMPI, EPI…), đánh giá rối loạn giấc ngủ (PSQI…) …
Các xét nghiệm chuyên khoa khác nhằm xác định bệnh lý kết hợp hoặc loại trừ nguyên nhân thực thể:
  • Điện não đồ, lưu huyết não
  • Điện tâm đồ, XQ tim phổi, siêu âm ổ bụng, siêu âm tuyến giáp
  • CT, MRI...

Chẩn đoán phân biệt

  • Phân biệt với sút cân do nguyên nhân bệnh cơ thể: rối loạn dạ dày – ruột (bệnh Crohn, hội chứng khó hấp thu), các bệnh rối loạn chuyển hóa, u não, ung thư. Trong các trường hợp này thường tìm thấy căn nguyên thực thể rõ ràng; bệnh nhân nhận biết thực tế sút cân, không phải như trong chán ăn tâm thần. Người bệnh vẫn tin rằng mình quá béo ngay cả khi đang gầy mòn.
  • Trầm cảm: sút cân do không chịu ăn, mất ngon miệng, khí sắc trầm, ít vận động và suy nghĩ chậm chạp… nhưng không thể hiện những ý tưởng méo mó về cơ thể như trong chán ăn tâm thần. Các trắc nghiệm tâm lý cũng có thể cung cấp thêm cho chẩn đoán trầm cảm.
  • Các triệu chứng ám ảnh và hội chứng mệt mỏi mạn tính kết hợp, cũng như các nét rối loạn nhân cách làm cho sự phân biệt trở nên khó khăn.

ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc điều trị

  • Phối hợp liệu pháp tâm lý và liệu pháp hóa dược. Đồng thời cần nghiên cứu việc ăn uống của bệnh nhân và phối hợp với các nhà dinh dưỡng nhằm bảo đảm chế độ ăn đủ các chất dinh dưỡng chủ yếu.
  • Cần cấp cứu nội khoa và tâm thần khi cần thiết.
Nguyên tắc chọn thuốc:
  • Ưu tiên đơn trị liệu (chọn một trong những thuốc liệt kê ở dưới); nếu chưa hiệu quả thì sử dụng đồng thời một thuốc chống trầm cảm và một thuốc an thần kinh được khuyến cáo nhiều hơn cả.
  • Khởi liều thấp và tăng liều từ từ cho đến khi đạt hiệu quả.
  • Hạn chế lạm dụng nhóm giải lo âu gây nghiện.

Sơ đồ/phác đồ điều trị

  • Liệu pháp hóa dược + liệu pháp tâm lý

Điều trị cụ thể

Thăm khám ban đầu được xem như một hình thức điều trị: thầy thuốc cần thiết lập mối quan hệ tốt bằng cách thể hiện sự quan tâm tới cuộc sống của bệnh nhân và gia đình, đồng thời giúp họ có hy vọng vào tương lai. Thái độ của thầy thuốc cần nghiêm túc nhưng thân thiện.
Liệu pháp tâm lý cần được phối hợp với việc chăm sóc và quan tâm thực sự đến bệnh nhân, với yêu cầu rằng người bệnh không được nhịn đói. Cần giải thích cho bệnh nhân rằng khi ăn uống được phục hồi bình thường sẽ làm giảm sự bận tâm của họ về thức ăn, giảm mệt mỏi và trầm cảm, từ đó cải thiện mối quan hệ với gia đình và bạn bè. Cần chỉ ra cho bệnh nhân sự cần thiết của một chế độ ăn hợp lý, đa dạng, ăn uống đều đặn những thức ăn giàu năng lượng; không nên ăn theo những ý thích kì cục. Tiến hành liệu pháp tâm lý cá nhân, liệu pháp tâm lý nhóm và liệu pháp gia đình, đồng thời phối hợp giáo dục cho mọi thành viên trong gia đình để tất cả cùng quan tâm và làm điều tốt cho người bệnh.
Liệu pháp hóa dược: chán ăn tâm thần thường phối hợp trầm cảm và những xung động ám ảnh; vì vậy thuốc chống trầm cảm được chỉ định. Các thuốc chống trầm cảm thuộc nhóm SSRI, SNRI, 3 vòng hoặc nhóm khác:
Chọn một hoặc hai hoặc ba thuốc trong số các thuốc sau:
  • Imipramin, liều khởi đầu 25 - 300 mg/24 giờ
  • Amitriptylin, liều 25 - 300 mg/24 giờ
  • Paroxetin, liều 20 - 80 mg/24 giờ
  • Fluoxetin, liều 10 - 80 mg/24 giờ
  • Fluvoxamin, liều 50 - 300 mg/24 giờ
  • Citalopram, liều 20 - 60 mg/24 giờ
  • Escitalopram, liều 10 - 20mg/24 giờ
  • Sertralin, liều 50 - 200 mg/24 giờ
  • Venlafaxin, liều 37,5 - 375 mg/24 giờ
  • Mirtazapin, liều 15 - 60 mg/24 giờ
Tùy trường hợp cụ thể, điều trị phối hợp với các nhóm thuốc:
  • Nhóm thuốc bình thần, giải lo âu nhóm benzodiazepins: diazepam, lorazepam, bromazepam, alprazolam,…; nhóm non-benzodiazepins: etifoxine HCL, sedanxio, zopiclon…; nhóm thuốc chẹn beta giao cảm: propanolol…
  • Nuôi dưỡng tế bào thần kinh: piracetam, ginkgo biloba, vinpocetin, choline alfoscerate, nicergoline, ….
  • Thuốc hỗ trợ chức năng gan, thuốc tăng cường nhận thức…
  • Dinh dưỡng: bổ sung dinh dưỡng, vitamine nhóm B và khoáng chất, chế độ ăn dễ tiêu hóa (mềm, nhiều xơ), đủ vitamin và khoáng chất (hoa quả, ….), tránh chất kích thích, uống đủ nước, nuôi dưỡng đường tĩnh mạch… trong những trường hợp cần thiết.
  • Vận động trị liệu, hoạt động trị liệu….

TIÊN LƯỢNG VÀ BIẾN CHỨNG

  • Chán ăn tâm thần có thể tiến triển thành mạn tính.
  • Cần dự phòng và tránh các biến chứng do phát hiện muộn, điều trị không kịp thời, vì có thể dẫn đến suy dinh dưỡng và suy kiệt ở nhiều mức độ trầm trọng khác nhau; đồng thời gây ra các biến đổi chuyển hóa, nội tiết thứ phát và rối loạn các chức năng cơ thể.

PHÒNG BỆNH

  • Rèn luyện tác phong và thói quen ăn uống đều đặn trong ngày, không nhịn đói bỏ bữa ăn hàng ngày.
  • Phát hiện và điều trị sớm các rối loạn tâm thần (trầm cảm có ý tưởng hành vi tự sát) và bệnh lý nội khoa là nguyên nhân gây chán ăn tâm thần.

Tài liệu tham khảo

  1. Quyết định số 2058/QĐ-BYT Ngày 14 tháng 05 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Y Tế về: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số rối loạn tâm thần thường gặp