Nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng

Post key: c22b9fd4-fe00-516c-9465-514d349a18b3
Slug: nhiem-trung-huyet-va-soc-nhiem-trung
Excerpt: Bài viết hướng dẫn chẩn đoán và xử trí Nhiễm trùng huyết (sepsis) và sốc nhiễm trùng, bao gồm: tiếp cận sớm theo thang điểm qSOFA/SIRS/NEWS/MEWS và đánh giá mức độ nặng bằng SOFA; lấy cấy máu trước khi dùng kháng sinh nếu không trì hoãn; theo dõi bằng marker viêm (CRP, procalcitonin) và nguyên tắc sử dụng PCT để hỗ trợ quyết định bắt đầu/ngừng kháng sinh. Điều trị nhấn mạnh “gói 1 giờ” (lactate, cấy máu, kháng sinh phổ rộng sớm, truyền dịch tinh thể 30 mL/kg khi tụt HA hoặc lactate cao, thêm thuốc vận mạch để đạt MAP ≥ 65 mmHg và đo lại lactate nếu ban đầu > 2 mmol/L), đồng thời các bước hồi sức ở ICU: kiểm soát nguồn nhiễm trùng, tối ưu dịch–vận mạch, corticosteroid trong sốc kháng trị, truyền máu hạn chế, chiến lược chống đông/chống loét, thở máy theo phác đồ ARDS (Vt thấp, Pplat/PEEP phù hợp, nằm sấp), an thần – giảm đau tối ưu, kiểm soát đường máu và can thiệp thay thế thận. Phần riêng về “sốc kháng trị” đề cập các lựa chọn co mạch thay thế/tăng hỗ trợ (hydrocortisone ± fludrocortisone, vasopressin, vasopressor bổ sung), bicarbonate, RRT, thuốc điều biến vi tuần hoàn (epoprostenol/GTN), các liệu pháp cứu cánh (angiotensin II, xanh metylen, hydroxocobalamin, kháng sinh ức chế sinh độc tố trong chọn lọc) và ECMO khi thở máy thất bại tại trung tâm có kinh nghiệm. Tài liệu tham khảo: Surviving Sepsis Campaign (2016, 2021); Critical Care 2018; Uptodate; PulmCrit; “Refractory septic shock: our updated pragmatic approach” (09/01/2026).
Recognized tags: chan-doan, dieu-tri, icu, cap-cuu, khan-cap, xet-nghiem, khang-sinh

GIỚI THIỆU

Từ viết tắt: KC (khuyến cáo), CLBC (chất lượng bằng chứng)
Nhiễm trùng huyết là tình trạng rối loạn chức năng cơ quan đe dọa tính mạng do mất điều hòa đáp ứng của cơ thể trước tình trạng nhiễm trùng.
Thống nhất định nghĩa nhiễm trùng huyết (SEPSIS)
Nhiễm trùng huyết (Sepsis)
Rối loạn chức năng cơ quan đe dọa tính mạng do sự mất kiểm soát của cơ thể trong đáp ứng với nhiễm trùng
Rối loạn chức năng cơ quan
Tăng điểm đánh giá suy đa cơ quan (Sequential Organ Failure Assessment [SOFA]) ≥ 2 điểm
Sốc nhiễm trùng (Septic Shock)
Dùng thuốc vận mạch nhằm duy trì HA trung bình (MAP) ≥ 65 mmHg và Lactate > 2 mmol/L khi không còn giảm thể tích (đã hồi sức truyền dịch đầy đủ)
Kết quả xấu cho nhiễm trùng huyết
(ít nhất 2 trong số sau)
quick SOFA ≥ 2 điểm
  • Mặc dù phức tạp, sinh lý bệnh của nhiễm trùng huyết liên quan đến chuỗi các con đường tương tác gồm kích thích miễn dịch, ức chế miễn dịch, tăng đông máu và giảm tan cục máu đông.
  • Kiểm soát tim mạch là yếu tố then chốt trong điều trị nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng. Hạ huyết áp xảy ra do suy yếu co mạch của cơ trơn mạch máu dẫn đến dãn mạch ngoại vi. Hồi sức tim mạch đã được chứng minh là thành phần quan trọng quyết định khả năng sống còn ở bệnh nhân sốc nhiễm trùng.
  • Bên cạnh kiểm soát tim mạch, điều trị khởi đầu nhắm vào nguồn nhiễm trùng phù hợp đối với bệnh nhân nhiễm trùng huyết cũng là yếu tố có ý nghĩa quan trọng quyết định kết quả điều trị.
  • Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy đạt được cân bằng dịch âm sau giai đoạn hồi sức ban đầu và đảm bảo sự ổn định của bệnh nhân bị sốc nhiễm trùng có thể mang lại lợi ích sống sót thêm.

CHẨN ĐOÁN

Sơ đồ tiếp cận
Bệnh nhân nghi ngờ nhiễm trùng huyết cần được đánh giá theo các điểm mấu chốt sau:
  • Tiêu điểm: ổ nhiễm trùng và đường vào vi khuẩn
  • Yếu tố nguy cơ: già yếu, SGMD, sử dụng Corticoid, suy cơ quan, ung thư, nghiện rượu,...
Tại khoa cấp cứu: sử dụng thang điểm qSOFA ≥ 2 điểm để kích hoạt sớm gói 1 giờ trong điều trị nhiễm trùng huyết. Nếu qSOFA < 2 điểm nhưng SIRS ≥ 2 điểm, cần tiếp tục theo dõi và đánh giá lại qSOFA.
Tại khoa ICU: điểm SOFA tăng lên ≥ 2 điểm giúp xác định chẩn đoán và đánh giá mức độ nặng.

Thang điểm

Chúng tôi khuyến cáo không sử dụng qSOFA thay cho SIRS, NEWS hoặc MEWS như công cụ sàng lọc duy nhất để phát hiện nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng.

CLBC: trung bình KC: mạnh

SIRS

Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS) có ý nghĩa trong việc gợi ý tình trạng nhiễm trùng. Tuy vậy, độ nhạy không cao và cần kết hợp thêm dữ liệu xét nghiệm, do đó có nguy cơ gây chậm trễ trong chẩn đoán và điều trị sớm.
  • Nhiệt độ > 38 o C hoặc < 36 o C (1đ)
  • Nhịp tim > 90 lần/phút (1đ)
  • Nhịp thở > 20 lần/phút hoặc PaCO2 < 32 mmHg (1đ)
  • BC > 12.0 G/L hoặc < 4.0 G/L hoặc BC non > 10% (1đ)

qSOFA

Thang điểm qSOFA ≥ 2 điểm hiện được áp dụng để chẩn đoán nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng tại phòng cấp cứu, nhằm triển khai nhanh gói 1 giờ.
  • Thay đổi ý thức với Glasgow < 15đ (1đ).
  • Nhịp thở ≥ 22 lần/phút (1đ).
  • HA tâm thu ≤ 100 mmHg (1đ).

SOFA

Điểm SOFA ≥ 2 điểm được sử dụng để chẩn đoán nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng tại đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU). Khi áp dụng thang điểm cần thu thập đầy đủ các thông tin:
  • Lâm sàng: Glasgow, MAP và lượng nước tiểu trong 24 giờ.
  • Xét nghiệm: KMĐM (P/F), CTM (TC), Bilirubin TP, Creatinin.

NEWS và MEWS

Đây là các thang điểm phát hiện dấu hiệu cảnh báo sớm, được sử dụng trong hệ thống phản ứng nhanh (RRS) và là công cụ chính của đội phản ứng nhanh (RRT). Trong hai thang điểm này có một số chỉ số tương đồng, dùng để phát hiện nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng. NEWS được áp dụng sàng lọc chung, còn MEWS là thang điểm được chỉnh sửa để áp dụng riêng cho người lớn.
Thang điểm NEWS
Thang điểm MEWS

Cấy máu

Chúng tôi khuyến cáo lấy mẫu cấy vi sinh thường quy phù hợp (bao gồm cả cấy máu) trước khi bắt đầu điều trị kháng sinh ở bệnh nhân nghi ngờ nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, nếu việc thực hiện không gây trì hoãn đáng kể trong khởi đầu kháng sinh.

KC: Thực hành tốt nhất
  • Việc cấy máu mọc vi khuẩn là tác nhân gây bệnh giúp chẩn đoán xác định và có kháng sinh đồ để điều chỉnh kháng sinh trong suốt quá trình điều trị. Tuy nhiên, tỷ lệ cấy mọc vi khuẩn không cao.
  • Kỹ thuật: lấy máu ở 2 vị trí khác nhau (trong đó 1 vị trí là catheter nội mạch nếu thời gian lưu > 48 giờ), cấy: vi khuẩn và nấm. Sau đó thực hiện định danh và làm kháng sinh đồ.
  • Đồng thời cần lấy bệnh phẩm từ tiêu điểm nhiễm trùng nghi ngờ như dịch/mủ/phân/nước tiểu.
  • Cấy vi sinh thường quy phù hợp luôn bao gồm ít nhất hai bộ cấy máu (hiếu khí và kỵ khí).

Marker nhiễm trùng

Công thức máu (chỉ số và công thức bạch cầu), CRP hs (mức độ phản ứng viêm toàn thân) và Pro-calcitonin (tăng trong nhiễm: phế cầu, HI, nấm, ký sinh trùng [sốt rét], sốc, chấn thương, phẫu thuật, bỏng, suy thận mạn) là các chỉ số hiện vẫn được sử dụng phổ biến để theo dõi tình trạng nhiễm trùng.
Pro-calcitonin còn hỗ trợ định hướng sử dụng kháng sinh theo các ngưỡng tham khảo:
  • Pro-calcitonin > 5 ng/mL: tiếp tục dùng kháng sinh.
  • Pro-calcitonin < 0,25 ng/L (≤ 0,1 ng/L là tối ưu): ngừng kháng sinh.

Đối với người lớn nghi ngờ nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyên không sử dụng procalcitonin kết hợp với đánh giá lâm sàng để quyết định thời điểm bắt đầu dùng kháng sinh, so với việc chỉ dựa vào đánh giá lâm sàng đơn thuần.

CLBC: rất thấp KC: yếu

Đối với người lớn đã được chẩn đoán ban đầu là nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và kiểm soát nguồn bệnh đầy đủ, khi thời gian điều trị tối ưu chưa rõ ràng, chúng tôi khuyến nghị sử dụng procalcitonin VÀ đánh giá lâm sàng để quyết định thời điểm ngừng kháng sinh so với chỉ đánh giá lâm sàng đơn thuần.

CLBC: thấp KC: yếu
Xem thêm: ý nghĩa xét nghiệm Procalcitonin (PCT)

ĐIỀU TRỊ

Đối với người lớn mắc nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng cần nhập ICU, chúng tôi đề nghị đưa bệnh nhân vào ICU trong vòng 6 giờ.

CLBC: thấp KC: yếu

Gói 1 giờ

Hồi sức ban đầu cho nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng, bao gồm:
  1. Đo nồng độ Lactate (*).
  2. Cấy máu trước khi cho kháng sinh.
  3. Cho kháng sinh phổ rộng.
  4. Truyền nhanh dịch tinh thể 30ml/kg nếu huyết áp thấp hoặc latate ≥ 4 mmol/L.
  5. Thêm thuốc vận mạch trong khi hoặc sau hồi sức dịch để duy trì huyết áp trung bình (MAP) ≥ 65 mmHg.
(*) Đo lại nồng độ Lactate nếu ban đầu cao > 2 mmol/L.
Checklist gói 1 giờ - Sepsis Bundle (Hour-1 Bundle)

Hồi sức ban đầu

Nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng là tình huống cấp cứu y tế; cần khởi động điều trị và hồi sức ngay lập tức.

KC: thực hành tốt nhất

Đối với bệnh nhân có giảm tưới máu do nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị truyền ít nhất 30 mL / kg dịch tinh thể IV trong vòng 3 giờ đầu của hồi sức.

CLBC: thấp KC: yếu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị sử dụng các chỉ số động để định hướng hồi sức dịch thay vì khám lâm sàng hoặc chỉ sử dụng đơn thuần các chỉ số tĩnh.

CLBC: rất thấp KC: yếu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị hướng dẫn hồi sức nhằm giảm lactate huyết thanh ở những bệnh nhân có nồng độ lactate cao hơn là không sử dụng lactate huyết thanh.

CLBC: thấp KC: yếu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị sử dụng thời gian đổ đầy mao mạch để hướng dẫn hồi sức như biện pháp bổ sung cho các phương thức truyền dịch khác.

CLBC: thấp KC: yếu

Việc sử dụng CVP đơn thuần để hướng dẫn hồi sức bằng dịch truyền không còn hợp lý vì khả năng dự đoán đáp ứng với tình trạng thiếu dịch khi CVP ở trong giới hạn tương đối bình thường (8–12 mm Hg) bị hạn chế.
Ngoài ra, nhắm đến mục tiêu MAP 85 mmHg có nguy cơ loạn nhịp tim cao hơn đáng kể (trừ bệnh nhân THA mãn tính trước đó, nhằm giảm nhu cầu liệu pháp thay thế thận).

Kháng sinh

Đối với người lớn nghi ngờ nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng nhưng tác nhân nhiễm trùng chưa được xác nhận, chúng tôi khuyến nghị tiếp tục đánh giá lại, đồng thời tìm kiếm các chẩn đoán thay thế; nếu một nguyên nhân thay thế của bệnh được chứng minh hoặc nghi ngờ mạnh mẽ, cần ngừng sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm.

KC: thực hành tốt nhất

Đối với người lớn có thể bị sốc nhiễm trùng hoặc nguy cơ nhiễm trùng huyết cao, chúng tôi khuyến nghị dùng kháng sinh ngay lập tức, lý tưởng nhất là trong vòng 1 giờ sau khi nhận biết.

CLBC: thấp KC: mạnh

Đối với người lớn có khả năng nhiễm trùng huyết nhưng chưa có sốc, chúng tôi khuyến nghị đánh giá nhanh khả năng nguyên nhân nhiễm trùng so với nguyên nhân không nhiễm trùng của bệnh cấp tính.

KC: thực hành tốt nhất

Đối với người lớn có khả năng nhiễm trùng huyết nhưng chưa có sốc, chúng tôi đề nghị thực hiện một cuộc thăm dò nhanh chóng có giới hạn thời gian; nếu vẫn còn lo ngại về nhiễm trùng, dùng kháng sinh trong vòng 3 giờ kể từ thời điểm nhiễm trùng huyết được phát hiện lần đầu.

CLBC: rất thấp KC: yếu

Đối với người lớn có nguy cơ nhiễm trùng thấp và không có sốc, chúng tôi đề nghị hoãn việc cho kháng sinh trong khi theo dõi chặt chẽ bệnh nhân.

CLBC: rất thấp KC: yếu

Đối với người lớn nghi ngờ nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến nghị không dùng procalcitonin kết hợp với đánh giá lâm sàng để quyết định thời điểm bắt đầu kháng sinh, so với chỉ đánh giá lâm sàng đơn thuần.

CLBC: rất thấp KC: yếu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng có nguy cơ cao mắc MRSA, chúng tôi khuyến cáo sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm có bao phủ MRSA thay vì kháng sinh không bao phủ MRSA.

KC: thực hành tốt nhất

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng có nguy cơ MRSA thấp, chúng tôi đề nghị (gợi ý) không sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm có bao phủ MRSA so với kháng sinh không bao phủ MRSA.

CLBC: thấp KC: yếu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và có nguy cơ thấp với các vi sinh vật đa kháng thuốc (MDR), chúng tôi đề nghị (gợi ý) không dùng 2 thuốc điều trị gram âm theo kinh nghiệm so với dùng 1 thuốc điều trị gram âm.

CLBC: rất thấp KC: yếu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và có nguy cơ cao mắc các vi sinh vật đa kháng thuốc (MDR), chúng tôi đề nghị dùng 2 loại thuốc kháng sinh có độ phủ gram âm theo kinh nghiệm so với 1 loại thuốc điều trị gram âm.

CLBC: rất thấp KC: yếu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị không sử dụng bao phủ gram âm kép một khi đã biết rõ tác nhân gây bệnh và tính nhạy cảm.

CLBC: rất thấp KC: yếu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng có nguy cơ nhiễm nấm cao, chúng tôi đề nghị sử dụng liệu pháp kháng nấm theo kinh nghiệm thay vì không dùng liệu pháp kháng nấm.

CLBC: thấp KC: yếu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng có nguy cơ nhiễm nấm thấp, chúng tôi đề nghị không sử dụng liệu pháp kháng nấm theo kinh nghiệm.

CLBC: thấp KC: yếu

Chúng tôi không đưa ra khuyến cáo về việc sử dụng các thuốc kháng vi-rút.

KC: không có đề xuất

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị sử dụng truyền beta-lactam kéo dài để duy trì (sau liều tiêm ban đầu) thay vì truyền bolus thông thường.

CLBC: trung bình KC: yếu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo tối ưu hóa các chiến lược liều thuốc kháng sinh dựa trên các nguyên tắc dược động học / dược lực học được chấp nhận và đặc tính của từng thuốc cụ thể.

KC: thực hành tốt nhất

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị đánh giá hằng ngày để giảm leo thang kháng sinh hơn là áp dụng thời gian điều trị cố định mà không đánh giá lại hằng ngày để giảm leo thang.

CLBC: rất thấp KC: yếu

Đối với người lớn được chẩn đoán ban đầu là nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và kiểm soát nguồn lây nhiễm đầy đủ, chúng tôi đề nghị sử dụng liệu pháp kháng sinh trong khoảng thời gian ngắn hơn thay vì dài hơn.

CLBC: rất thấp KC: yếu

Đối với người lớn được chẩn đoán ban đầu là nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và kiểm soát nguồn lây nhiễm đầy đủ khi thời gian điều trị tối ưu chưa rõ ràng, chúng tôi đề nghị sử dụng procalcitonin VÀ đánh giá lâm sàng để quyết định thời điểm ngừng kháng sinh hơn là chỉ đánh giá lâm sàng đơn thuần.

CLBC: thấp KC: yếu

Kiểm soát ổ(nguồn) nhiễm trùng

Chúng tôi đề nghị xác định chẩn đoán về mặt giải phẫu cụ thể của nhiễm trùng; đồng thời kiểm soát nguồn lây nhiễm khẩn cấp cần được xác định hoặc loại trừ càng nhanh càng tốt ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng. Mọi can thiệp kiểm soát nguồn (nhiễm trùng) bắt buộc phải được thực hiện càng sớm càng tốt về mặt y tế và lý luận sau khi chẩn đoán được thực hiện (2016).

KC: thực hành tốt nhất

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị nhanh chóng loại bỏ các thiết bị tiếp cận nội mạch có thể là nguồn gây nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng sau khi đã thiết lập được các thiết bị tiếp cận mạch máu khác.

KC: thực hành tốt nhất
Vd: dẫn lưu ổ áp xe, cắt bỏ mô hoại tử nhiễm trùng, loại bỏ thiết bị có khả năng bị nhiễm bệnh... Mục tiêu là không quá 6 - 12 giờ sau khi được chẩn đoán.
Kiểm soát nguồn lây nhiễm trong việc quản lý nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng

Liệu pháp truyền dịch

Đối với bệnh nhân giảm tưới máu do nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị truyền ít nhất 30 mL / kg dịch tinh thể IV trong vòng 3 giờ đầu của hồi sức.

CLBC: thấp KC: yếu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị sử dụng các chỉ số động để hướng dẫn hồi sức dịch hơn là khám lâm sàng hoặc chỉ số tĩnh.

CLBC: rất thấp KC: yếu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị dịch tinh thể là dịch truyền đầu tiên để hồi sức.

CLBC: trung bình KC: mạnh

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị sử dụng dung dịch tinh thể cân bằng (vd, Ringer fundin) thay vì nước muối thông thường (NaCl 0.9%) để hồi sức.

CLBC: rất thấp KC: yếu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị dùng albumin ở các bệnh nhân đã được truyền một lượng lớn dịch tinh thể.

CLBC: trung bình KC: yếu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo không sử dụng các dung dịch cao phân tử để hồi sức.

CLBC: cao KC: mạnh

Không đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo về việc sử dụng chiến lược truyền dịch hạn chế so với chiến lược tự do trong 24 giờ đầu của hồi sức ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng vẫn có dấu hiệu giảm tưới máu và suy giảm thể tích sau hồi sức ban đầu.

KC: Không có đề xuất
Truyền Albumin (5%) thường nhằm mục tiêu Albumin > 30 g/L.

Thuốc vận mạch

Đối với người lớn mắc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo sử dụng norepinephrine như thuốc đầu tay thay vì các thuốc vận mạch khác.
Chất lượng bằng chứng:
Dopamine: cao
Vasopressin: trung bình
Epinephrine: thấp
Selepressin: thấp
Angiotensin 2: Rất thấp

KC: mạnh

Đối với người lớn mắc sốc nhiễm trùng do dùng norepinephrine mà mức huyết áp động mạch trung bình (MAP) không đủ, chúng tôi đề nghị bổ sung vasopressin thay vì tăng liều norepinephrine.

CLBC: trung bình KC: yếu

Đối với người lớn mắc sốc nhiễm trùng và mức huyết áp động mạch trung bình (MAP) không đủ mặc dù đã dùng norepinephrine và vasopressin, chúng tôi đề nghị bổ sung epinephrine.

CLBC: thấp KC: yếu

Đối với người lớn mắc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị không sử dụng terlipressin.

CLBC: thấp KC: yếu

Đối với người lớn mắc sốc nhiễm trùng và rối loạn chức năng tim kèm giảm tưới máu kéo dài mặc dù đã đảm bảo đầy đủ tình trạng thể tích và huyết áp động mạch, chúng tôi đề nghị hoặc là bổ sung dobutamine vào norepinephrine hoặc sử dụng epinephrine đơn độc.

CLBC: thấp KC: yếu

Đối với người lớn mắc sốc nhiễm trùng và rối loạn chức năng tim kèm giảm tưới máu kéo dài mặc dù đã đảm bảo đầy đủ tình trạng thể tích và huyết áp động mạch, chúng tôi đề nghị không sử dụng levosimendan.

CLBC: thấp KC: yếu
Những thuốc thường dùng trong sốc nhiễm trùng
CO MAP SVR
I. VẬN MẠCH (mcg/kg/phút)
Norepinephrine
0.051– 0.5
Tối đa: 3.3
-/+ ++ +++
Dopamine
5 - 20
Tối đa: 20 - >50
++ + ++
Epinephrine
0.05 - 2
++ ++ +++
Phenylephrine
2–10
0 ++ +++
Vasopressin
0.03 UI/phút
0 +++ +++
II. TĂNG CO BÓP CƠ TIM, TĂNG NHỊP TIM (inotrope)
Dobutamine
2.5 - 10
Tối đa: 40
+++ -/+ -/0
III. CORTICOSTEROIDS
Hydrocortisone (+/– fludrocortisone 50 mcg hằng ngày) 50 mg mỗi 6 giờ (hoặc 100 mỗi 8 giờ)
Với CO: cung lượng tim, MAP: huyết áp động mạch trung bình, SVR: sức cản mạch máu hệ thống
mcg/kg/phút >> ml/h tính tốc độ truyền(ml/h) khi pha thuốc trong bơm tiêm điện đủ 50ml

Corticosteroids

Đối với người lớn mắc sốc nhiễm trùng và đang tiếp tục điều trị bằng thuốc vận mạch, chúng tôi đề nghị sử dụng corticosteroid đường tĩnh mạch.

CLBC: trung bình KC: yếu
  • Xét nghiệm nồng độ Cortisol ngẫu nhiên không được chứng minh tính hữu ích ở bệnh nhân sốc nhiễm trùng có suy thượng thận.
  • Dùng cho bệnh nhân sốc kháng trị kéo dài trong hơn 1 giờ sau khi hồi sức dịch và vận mạch đủ.
  • Xem xét liều Hydrocortisone 50mg/ mỗi 6 giờ hoặc 100mg mỗi 8 giờ (thuốc thay thế 20 mg Hydrocortisone = 5 mg Prednisolone/ Prenisone = 4mg Methyprednisolone/ Triamcinolone = 0.75mg Dexamethasone = 0.6 mg Betamethasone) thời gian điều trị thường 5 - 7 ngày . Giảm liều Steroid khi không còn dùng vận mạch nữa.
  • Steroid có thể được chỉ định ở bệnh nhân có tiền sử điều trị Steroid hoặc rối loạn chức năng tuyến thượng thận.
  • Lưu ý tác dụng phụ tăng Glucose máu và Natri máu.

Truyền máu và chế phẩm máu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo sử dụng chiến lược truyền máu hạn chế thay vì chiến lược truyền máu tự do.

CLBC: trung bình KC: mạnh
Xem thêm: chỉ định truyền máu và chế phẩm máu

Globulins miễn dịch

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị không sử dụng các globulin miễn dịch tiêm tĩnh mạch.

CLBC: thấp KC: yếu

Lọc máu phương thức siêu lọc, thay huyết tương, hấp phụ

Chúng tôi không đưa ra khuyến nghị liên quan đến việc sử dụng các kỹ thuật lọc máu.

Lọc máu hấp phụ hoặc lọc máu thay huyết tương (bằng NaCL 0.9% hoặc Albumin hoặc huyết tương tương đông lạnh) hoặc kết hợp nhằm loại bỏ nội độc tố hoặc cytokine, không đủ bằng chứng để ủng hộ hoặc chống lại việc sử dụng liệu pháp này. Nghiên cứu sâu hơn là cần thiết để làm rõ lợi ích lâm sàng của kỹ thuật lọc máu.

Chống đông

  1. Chúng tôi khuyến cáo không sử dụng antithrombin để điều trị nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng.
    CLBC: trung bình KC: mạnh
  2. Chúng tôi không đưa ra khuyến cáo về việc sử dụng thrombomodulin hoặc heparin để điều trị nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng.
(2016, hiện chưa có cập nhật mới năm 2022)
Việc điều trị nhắm mục tiêu liên quan đến đông máu nội mạch lan tỏa (DIC) qua đánh giá tổng thể không cho thấy tác dụng có lợi nào đối với tỷ lệ tử vong nói chung với Antithrombin mà còn tăng nguy cơ chảy máu; các thuốc này không được khuyến cáo cho đến khi các thử nghiệm lâm sàng tiếp theo được thực hiện.

Thở máy

Không có đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo về việc sử dụng mục tiêu oxy bảo tồn ở người lớn bị suy hô hấp giảm oxy máu do nhiễm trùng huyết.

Không có khuyến cáo

Đối với người lớn bị suy hô hấp giảm oxy máu do nhiễm trùng huyết, chúng tôi đề nghị sử dụng oxy mũi dòng cao (HFNO) hơn là thông khí không xâm lấn (NIV).

CLBC: thấp KC: yếu

Không có đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo về việc sử dụng thông khí không xâm lấn (NIV) so với thông khí xâm nhập cho người lớn bị suy hô hấp giảm oxy máu do nhiễm trùng huyết.

Không có khuyến cáo

Đối với người lớn bị ARDS do nhiễm trùng huyết, chúng tôi khuyến cáo chiến lược thông khí thể tích khí lưu thông (Vt) thấp (6 mL/kg) thay vì chiến lược Vt cao (> 10 mL/kg).

CLBC: cao KC: mạnh

Đối với người lớn bị ARDS nặng do nhiễm trùng huyết, chúng tôi khuyến cáo sử dụng mục tiêu giới hạn trên cho áp lực bình nguyên (Pplat) là 30 cm H2O, hơn là Pplat cao hơn.

CLBC: trung bình KC: mạnh

Đối với người lớn bị ARDS do nhiễm trùng huyết từ trung bình đến nặng, chúng tôi đề nghị sử dụng PEEP cao hơn, hơn là PEEP thấp hơn.

CLBC: trung bình KC: yếu

Đối với người lớn bị suy hô hấp do nhiễm trùng huyết (mà không có ARDS), chúng tôi đề nghị sử dụng thông khí theo Vt thấp so với Vt cao.

CLBC: thấp KC: yếu

Đối với người lớn bị ARDS nặng do nhiễm trùng huyết, chúng tôi đề nghị sử dụng các thao tác huy động phế nang truyền thống.

CLBC: trung bình KC: yếu

Khi sử dụng các thao tác huy động phế nang, chúng tôi khuyến cáo không sử dụng chiến lược / chuẩn độ PEEP tăng dần.

CLBC: trung bình KC: mạnh

Đối với người lớn bị ARDS mức độ trung bình-nặng do nhiễm trùng huyết, chúng tôi khuyến cáo sử dụng thông khí nằm sấp trong hơn 12 giờ mỗi ngày.

CLBC: trung bình KC: mạnh

Đối với người lớn bị ARDS từ trung bình đến nặng do nhiễm trùng huyết, chúng tôi đề nghị dùng các liều bolus NMBA (thuốc chẹn thần kinh cơ) ngắt quãng thay vì truyền NMBA liên tục.

CLBC: trung bình KC: yếu

Đối với người lớn bị ARDS nặng do nhiễm trùng huyết, chúng tôi đề nghị sử dụng ECMO tĩnh mạch-tĩnh mạch (V-V ECMO) khi thở máy thông thường thất bại tại các trung tâm có kinh nghiệm với cơ sở hạ tầng hỗ trợ việc sử dụng.

CLBC: thấp KC: yếu
Xem thêm: Hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS)
Xem thêm: Cai thở máy

An thần và giảm đau

Chúng tôi khuyến cáo hạn chế sử dụng an thần liên tục hoặc ngắt quãng ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết thở máy, với mục tiêu đạt các điểm cuối chuẩn độ cụ thể (Thực hành tốt nhất) 2016.

Hạn chế sử dụng thuốc an thần giúp giảm thời gian nằm ICU và thời gian nằm viện ở bệnh nhân nặng thở máy. Có thể xem xét áp dụng một số chiến lược sau:
  • Sử dụng phác đồ theo dõi dựa trên các thang điểm đánh giá an thần và giảm đau nhằm cải thiện kết quả.
  • Nên sử dụng an thần ngắt quãng thay vì liên tục.
  • Sử dụng opioid đơn độc và tránh sử dụng thuốc an thần.
  • Sử dụng thuốc tác dụng ngắn như Propofol hoặc Dexmedetomidine thay vì Bezodiazepine.
  • Phương pháp không dùng thuốc, tiếp cận quản lý đau, kích động và mê sảng.
Xem thêm: An thần, giảm đau, giãn cơ trong thở máy, ICU

Kiểm soát đường máu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo bắt đầu điều trị bằng insulin khi đường huyết ≥ 180 mg/dL (10mmol/L).

CLBC: trung bình KC: mạnh
Glucose Control (kiểm soát đường máu trong ICU)

Liệu pháp thay thế thận

Ở người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và tổn thương thận cấp (AKI), chúng tôi đề nghị sử dụng liệu pháp thay thế thận liên tục (CRRT) hoặc ngắt quãng (IRRT).

CLBC: thấp KC: yếu

Ở người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và tổn thương thận cấp (AKI) nhưng không có chỉ định chắc chắn cho liệu pháp thay thế thận, chúng tôi khuyên không nên sử dụng liệu pháp thay thế thận.

CLBC: trung bình KC: yếu
Xem thêm: chỉ định thay thế thận

Liệu pháp Bicarbonate

Đối với người lớn bị sốc nhiễm trùng và tăng acid lactic máu do giảm tưới máu, chúng tôi đề nghị không sử dụng liệu pháp natri bicarbonat để cải thiện huyết động hoặc để giảm nhu cầu thuốc vận mạch.

CLBC: thấp KC: yếu

Đối với người lớn bị sốc nhiễm trùng và toan chuyển hóa nghiêm trọng (pH ≤ 7,2) kèm tổn thương thận cấp tính (điểm AKIN 2 hoặc 3), chúng tôi đề nghị sử dụng liệu pháp natri bicarbonat.

CLBC: thấp KC: yếu
Việc sử dụng Natri bicarbonat không cho thấy cải thiện huyết động và nhu cầu thuốc vận mạch; đồng thời còn liên quan đến quá tải dịch và Natri, tăng Latate, PaCO2 và giảm Caxi ion hóa trong huyết tương, tuy nhiên mức độ thì không chắc chắn.

Dự phòng huyết khối tĩnh mạch

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo sử dụng thuốc dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trừ khi có chống chỉ định với liệu pháp này.

CLBC: trung bình KC: mạnh

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo sử dụng heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH, vd: Enoxaparine).

CLBC: trung bình KC: mạnh

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị không dùng dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch bằng biện pháp cơ học bổ sung vào dự phòng bằng thuốc, thay vì chỉ dự phòng bằng thuốc đơn thuần.

CLBC: thấp KC: yếu
Xem thêm: Dự phòng huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân Nội khoa, ICU
Xem thêm: Dự phòng huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân Ngoại khoa (theo ACCP)

Dự phòng loét dạ dày do stress

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng và có các yếu tố nguy cơ xuất huyết tiêu hóa, chúng tôi đề nghị sử dụng dự phòng loét do stress.

CLBC: trung bình KC: yếu
Xem thêm: Dự phòng xuất huyết tiêu hóa ở bệnh nhân ICU

Dinh dưỡng

Đối với bệnh nhân người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng có thể được cho ăn qua đường ruột, chúng tôi đề nghị bắt đầu nuôi dưỡng qua đường ruột sớm (trong vòng 72 giờ).

CLBC: rất thấp KC: yếu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị không sử dụng vitamin C đường tĩnh mạch.

CLBC: thấp KC: yếu
Xem thêm: Dinh dưỡng trong HSCC (ICU)

Thiết lập mục tiêu trong chăm sóc

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi khuyến cáo thảo luận về các mục tiêu chăm sóc và tiên lượng với bệnh nhân và gia đình hơn là không thảo luận như vậy.

KC: thực hành tốt nhất

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, chúng tôi đề nghị giải quyết các mục tiêu chăm sóc sớm (trong vòng 72 giờ) hơn là muộn (72 giờ hoặc muộn hơn).

CLBC: thấp KC: yếu

Đối với người lớn nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, không có đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo về bất kỳ tiêu chí tiêu chuẩn cụ thể nào để kích hoạt thảo luận về mục tiêu chăm sóc.

KC: Không có đề xuất
Các nội dung có thể xem xét thảo luận và thống nhất như: cam kết không cố gắng hồi sinh tim phổi (không đặt nội khí quản, không ép tim), ngừng thiết bị hỗ trợ sự sống (ECMO, thở máy,..)...

SỐC KHÁNG TRỊ

Sốc nhiễm trùng kháng trị là một hội chứng chưa được xác định rõ ràng với các định nghĩa không đồng nhất. Về bản chất, tình trạng này được đặc trưng bởi hạ huyết áp kèm yêu cầu phải sử dụng thuốc vận mạch liều cao trong bối cảnh giảm tưới máu mô dai dẳng và rối loạn chức năng cơ quan, mặc dù đã được hồi sức đầy đủ.
Ngày càng có nhiều nhận thức về nhu cầu điều trị đa phương thức sớm cho sốc kháng trị nhằm tránh độc tính không thể chấp nhận được do dư thừa catecholamine (thuốc vận mạch), ví dụ như rối loạn nhịp tim nhanh và thiếu máu cục bộ chi hoặc đường tiêu hóa. Mô hình truyền thống đi theo từng bước, bổ sung thuốc hỗ trợ sốc với liều lượng catecholamine tăng dần, có thể làm kéo dài thời gian phục hồi tưới máu mô và cơ quan vượt quá điểm có thể đảo ngược, từ đó làm tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong đáng kể. Bằng chứng đang phát triển cho thấy kết quả được cải thiện khi áp dụng cách tiếp cận cá nhân hóa hơn và bắt đầu sớm liệu pháp đa phương thức, hạn chế catecholamine để tránh độc tính và phục hồi tưới máu mô nhanh chóng.
Nội dung phần này chủ yếu được trích từ tài liệu tham khảo số [6] bên dưới.
Xử trí thuốc trong sốc giãn mạch - sốc nhiễm trùng kháng trị

Tiếp cận ban đầu

Dịch tinh thể cân bằng và Albumin

  • Đánh giá và tối ưu hóa tiền tải là nền tảng trong xử trí tình trạng giảm tưới máu các cơ quan trong sốc nhiễm khuẩn. Thực hành lâm sàng là kết hợp theo dõi cung lượng tim (CI) xâm lấn, siêu âm tim định kỳ và đánh giá lâm sàng động tại giường để nhận định đáp ứng với dịch truyền.
  • Dịch tinh thể cân bằng (ví dụ: Ringer lactate/Plasma-Lyte) vẫn là lựa chọn hàng đầu cho hồi sức dịch ban đầu; khi cần bù thể tích thêm có thể sử dụng dung dịch Albumin human 20% (có thể lên tới tối đa 300 mL).

Hydrocortisone và fludrocortisone

  • Truyền hydrocortisone liên tục với liều 200 mg mỗi ngày do những lợi ích tiềm tàng trong việc thúc đẩy quá trình hồi phục sốc.
  • Bổ sung fludrocortisone 100 µg mỗi ngày cho đến khi sốc được giải quyết (không chắc chắn về cải thiện kết cục sốc; tuy nhiên bằng chứng về giảm tỷ lệ tử vong ở mức vừa phải).

Vasopressin

  • Ở bệnh nhân sốc nhiễm trùng kháng trị, thường gặp biểu hiện kháng catecholamine với đường cong đáp ứng liều noradrenaline bị phẳng. Vasopressin gây co mạch qua trung gian thụ thể V1 và cho phép giảm nhu cầu noradrenaline. Vasopressin được cân nhắc khi nồng độ noradrenaline cơ bản nằm trong khoảng 0,2–0,3 mcg/kg/phút.
  • Liều vasopressin tối đa là 0,04 IU/phút nhằm giảm thiểu nguy cơ thiếu máu cục bộ.

Thăm dò huyết động - đường vào mạch máu (động mạch đùi)

  • Sốc nhiễm trùng kèm sử dụng thuốc vận mạch liều cao có thể làm gián đoạn sự lan truyền sóng áp lực động mạch bình thường. Hệ quả là có thể xuất hiện khác biệt đáng kể, lên tới 13 mmHg, giữa huyết áp động mạch trung bình (MAP) đo tại động mạch quay và động mạch đùi; điều này có thể dẫn đến tăng liều thuốc vận mạch không cần thiết và tăng độc tính.
  • Để hạn chế tình huống này, sử dụng đường vào động mạch đùi để theo dõi huyết áp như một phần của chiến lược hạn chế sử dụng thuốc vận mạch.

Mục tiêu MAP thấp hơn

  • Dù mục tiêu MAP ban đầu 65 mmHg thường được xem là hợp lý cho nhiều bệnh nhân, song MAP lý tưởng cần được cá nhân hóa và có thể hạ xuống 50–55 mmHg (các nghiên cứu trên bệnh nhân không bị nhiễm trùng huyết cho thấy tưới máu não và nội tạng vẫn có thể chấp nhận được tại các giá trị MAP thấp tới 50–55 mmHg) ở những bệnh nhân trẻ tuổi được lựa chọn mà không có tiền sử tăng huyết áp hoặc bệnh động mạch vành.
  • Cách tiếp cận này đòi hỏi theo dõi sát sự tưới máu mô và cơ quan; tuy nhiên có thể tránh co mạch ngoại vi quá mức gây tổn hại vi tuần hoàn và làm tăng nguy cơ biến chứng thiếu máu cục bộ.

Các biện pháp hỗ trợ và liệu pháp bổ sung

Hỗ trợ tăng co bóp cơ tim

Các tình trạng này có thể được nhận định bằng theo dõi cung lượng tim xâm lấn, siêu âm tim định kỳ và các chỉ số sinh lý thay thế, ví dụ độ bão hòa oxy tĩnh mạch trung tâm (ScvO2) và sự khác biệt áp suất CO2 giữa tĩnh mạch và động mạch. Dobutamine truyền thống được dùng để tăng khả năng co bóp của tim, nhưng nhịp tim nhanh trầm trọng hơn và tăng tiêu thụ oxy cơ tim có thể hạn chế hiệu quả trong bối cảnh này.
  • Mặc dù bằng chứng còn hạn chế, Milrinone được ưu tiên là lựa chọn tiếp cận với liều điển hình là 0,1–0,3 µg/kg/phút nhằm giảm thiểu tình trạng giãn mạch; đồng thời lưu ý đến thời gian bán thải kéo dài trong tổn thương thận cấp tính.
  • Nếu các thông số tuần hoàn lớn không đáp ứng với thuốc giãn mạch đầu tay, hoặc khi nghi ngờ bệnh cơ tim do căng thẳng (stress-induced cardiomyopathy), cần bắt đầu sử dụng Levosimendan.

Dinh dưỡng qua đường tiêu hóa và bổ sung thiamine

  • Ở bệnh nhân sốc rõ rệt kèm giảm tưới máu mạc treo, dinh dưỡng đường ruột sớm thường bị chống chỉ định hoặc chỉ giới hạn ở tốc độ cho ăn “dinh dưỡng” do thể tích dịch tồn dư dạ dày còn lại cao. Để tránh nguy cơ gia tăng thiếu máu cục bộ mạc treo không do tắc nghẽn, thường dựa vào dinh dưỡng đường tĩnh mạch để đạt mục tiêu calo đầy đủ, đặc biệt ở những bệnh nhân giảm lượng thức ăn trong nhiều ngày trước khi được chuyển đến cơ sở y tế.
  • Bổ sung thiamine (vitamin B1) có thể thúc đẩy đảo ngược tình trạng sốc ở những bệnh nhân thiếu hụt. Liều dùng thông thường là 500 mg thiamine 3 lần một ngày cho đến khi tình trạng sốc được giải quyết.

Bicarbonate và liệu pháp thay thế thận (RRT)

  • Nhiễm toan nặng gây suy giảm chức năng cơ tim, giãn mạch, co mạch phổi và giảm độ nhạy cảm với catecholamine. Việc sử dụng natri bicarbonate có thể làm giảm nhu cầu RRT và có thể giảm tỷ lệ tử vong trong trường hợp nhiễm toan chuyển hóa không có tăng khoảng trống anion.
  • Liệu pháp thay thế thận liều cao ngắn hạn lên tới 40–60 ml/kg/giờ có thể được bắt đầu sớm nhằm cải thiện nhanh tình trạng chuyển hóa.
  • Liều lượng kháng sinh và bổ sung vitamin/nguyên tố vi lượng cần được điều chỉnh để bù cho tình trạng thanh thải quá mức.

Epoprostenol và glyceryl trinitrate

  • Trong sốc nhiễm trùng kháng trị có biểu hiện nổi vân tím (lốm đốm) ngoại vi lan rộng, cân nhắc bắt đầu truyền epoprostenol liều thấp 0,5–5 ng/kg/phút để cải thiện lưu lượng vi tuần hoàn và giảm nguy cơ huyết khối và thiếu máu cục bộ ở ngón tay. Prostacyclin là chất ức chế mạnh sự kết tập tiểu cầu, do đó cần tránh sử dụng ở những bệnh nhân giảm tiểu cầu nặng hoặc có nguy cơ xuất huyết tăng.
  • Nếu chống chỉ định prostacyclin, có thể sử dụng truyền glyceryl trinitrate hoặc miếng dán tại chỗ.

Angiotensin II, xanh metylen và hydroxocobalamin

  • Bệnh nhân bị hạ huyết áp và giảm tưới máu kéo dài dù cung lượng tim vẫn được duy trì và tiền tải đã được tối ưu hóa đầy đủ có thể được hưởng lợi từ các liệu pháp co mạch khác, hoạt động thông qua các con đường thay thế nhằm tái lập áp lực tưới máu và qua đó tránh tiếp xúc quá mức với catecholamine. Sự thiếu hụt tương đối angiotensin II liên quan đến tiên lượng xấu hơn trong sốc nhiễm trùng. Việc sử dụng angiotensin II trong sốc nhiễm trùng làm tăng huyết áp và giảm nhu cầu thuốc co mạch tiêu chuẩn; đặc biệt có hiệu quả ở những bệnh nhân đang dùng thuốc ức chế hệ renin-angiotensin-aldosterone (RAAS), mặc dù kinh nghiệm hiện còn hạn chế.
  • Giãn mạch nghiêm trọng trong sốc nhiễm trùng liên quan đến sản sinh quá mức oxit nitric (NO), gây giãn mạch thông qua kích hoạt guanylate cyclase. Xanh methylene (MB) ức chế đặc hiệu guanylate cyclase hòa tan trong con đường phụ thuộc NO. Dựa trên các dữ liệu mới nổi trong phẫu thuật tim và trong sốc nhiễm trùng, MB có thể được dùng như một liệu pháp cứu cánh. MB cũng có đặc tính chống oxy hóa và có thể làm giảm stress oxy hóa liên quan đến nhiễm trùng huyết. Sử dụng liều tải 1–2 mg/kg, sau đó truyền liên tục 0,25–1 mg/kg/giờ; giới hạn liều tích lũy ở mức 7 mg/kg để giảm tác dụng phụ. Cần đặc biệt thận trọng ở bệnh nhân có nguy cơ mắc hội chứng serotonin do đặc tính ức chế monoamine oxidase của MB.
  • Hydroxocobalamin liều cao cũng đã được dùng như một liệu pháp cứu cánh thay thế. Thuốc là chất ức chế NO synthase, guanylate cyclase và hydro sunfua, đồng thời hoạt động như chất loại bỏ NO. Truyền chậm 5g trong 3-4 giờ để kéo dài tác dụng loại bỏ NO, trong trường hợp quá trình sản xuất NO vẫn đang diễn ra; tuy nhiên cần thêm nghiên cứu để chứng minh hiệu quả, độ an toàn và vị trí điều trị của chất mới này.
Lưu ý rằng MB và hydroxocobalamin có thể gây thay đổi màu sắc trong huyết tương, từ đó ảnh hưởng đến máy đo oxy xung mạch (SpO2), phát hiện rò rỉ máu trong mạch ngoài cơ thể và việc diễn giải các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm, chẳng hạn như theo dõi anti-Xa.

Liệu pháp kháng khuẩn giảm độc tố

Hội chứng sốc nhiễm độc có thể dẫn đến sốc nhiễm trùng khó điều trị do giải phóng ngoại độc tố vi khuẩn.
  • Các kháng sinh ức chế tổng hợp protein như clindamycin và linezolid làm giảm sản xuất độc tố trong ống nghiệm, mặc dù các nghiên cứu quan sát ghi nhận tác động khác nhau đến tỷ lệ tử vong. Sự khác biệt này có thể chịu ảnh hưởng bởi thời điểm sử dụng; điều trị sớm hơn có thể hiệu quả hơn.
  • Ở những bệnh nhân được chọn có tình trạng xấu đi nhanh chóng kèm các dấu hiệu gợi ý bệnh do độc tố gây ra, ví dụ tổn thương da hoặc đường tiêu hóa, có thể bắt đầu dùng kháng sinh ức chế tổng hợp protein trước khi xác nhận vi sinh.

Globulin miễn dịch tiêm tĩnh mạch

  • Đặc tính chống viêm và điều hòa miễn dịch của IVIG có thể mang lại lợi ích ở từng cá thể có kiểu hình viêm quá mức.
  • Do đó, có thể cân nhắc IVIG (1–2 g/kg) ở bệnh nhân sốc nhiễm trùng kháng thuốc được lựa chọn khi có kết quả vi sinh học, đặc điểm lâm sàng và/hoặc tiền sử gợi ý mạnh mẽ về các sinh vật sản sinh độc tố.

Oxy hóa qua màng ngoài cơ thể

  • Oxy hóa qua màng ngoài cơ thể (ECMO) có thể cung cấp một biện pháp tạm thời hiệu quả để đạt cung cấp oxy đầy đủ và điều chỉnh cân bằng axit-bazơ ở những bệnh nhân sốc nhiễm trùng kháng trị kèm bệnh cơ tim nhiễm trùng với phân suất tống máu giảm.
  • ECMO có thể làm giảm gánh nặng của hỗ trợ điều trị thông thường bằng cách giảm công suất thông khí cơ học và nhu cầu thuốc vận mạch. Tuy nhiên, lựa chọn bệnh nhân cần được cân nhắc cẩn trọng.

Tài liệu tham khảo

  1. Sepsis and Septic Shock. Critical Care 2018
  2. Uptodate: Sepsic and Septic Shock Graphic 99963 Version 10.0.
  3. Surviving Sepsis Campaign: International Guidelines for Management of Sepsis and Septic Shock: 2016
  4. PulmCrit- Metabolic sepsis resuscitation: the evidence behind Vitamin C
  5. International Guidelines for Management of Sepsis and Septic Shock 2021. Surviving Sepsis Campaign Guidelines 2021.
  6. Refractory septic shock: our updated pragmatic approach. Published: 09 January 2026