GIỚI THIỆU
Số lượng người bệnh đang chờ ghép tạng tại Hoa Kỳ tiếp tục tăng. Cơ quan đăng ký UNOS hiện ghi nhận hơn 120.000 bệnh nhân trong danh sách chờ. Nhu cầu ngày càng gia tăng này vượt xa đáng kể so với số lượng tạng sẵn có, từ đó hình thành tình trạng thiếu hụt tạng có ý nghĩa sống còn và dẫn tới tử vong ở nhiều người bệnh đang chờ ghép.
Để gia tăng nguồn tạng sẵn có, nhiều cách tiếp cận khác nhau đã được áp dụng, trong đó có mở rộng nguồn hiến tạng. Phần mở rộng này bao gồm tạng từ người hiến tạng có tiêu chí mở rộng và từ các trường hợp hiến tạng sau khi chết tim.
Các quy trình quản lý người hiến tạng được chuẩn hóa và triển khai tích cực đã góp phần làm tăng số lượng cơ quan được cấy ghép từ những người hiến tạng tiềm năng. Đồng thời, việc triển khai các trung tâm hiến tạng chuyên biệt cũng giúp tăng số ca ghép tạng.
HIẾN TẠNG
Cơ quan Quản lý Tài chính Chăm sóc Sức khỏe của Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh yêu cầu các bệnh viện liên hệ với tổ chức thu mua nội tạng địa phương khi một bệnh nhân sắp qua đời và sau đó được xem là ứng cử viên thích hợp để hiến tạng tiềm năng. Tổ chức thu mua nội tạng địa phương, phối hợp với nhóm đơn vị chăm sóc đặc biệt (team ICU), đánh giá xem bệnh nhân có đáp ứng các tiêu chí phù hợp để hiến tạng hay không.
Bảng 1 tóm tắt các tiêu chí khác nhau nhằm đánh giá sự phù hợp của hiến tạng.
| Tiêu chí đối với việc hiến tạng |
|---|
| Tuổi người hiến tạng |
|
| Thiếu tiền sử y tế đáng kể |
|
| Chống chỉ định tương đối |
|
(1) Gần đây đã có trường hợp người hiến tạng và người tiếp nhận ghép tạng đều cùng bị nhiễm HIV hoặc cùng nhiễm viêm gan C.
Sau khi có được sự đồng ý của gia đình, các xét nghiệm máu và các xét nghiệm không xâm lấn khác sẽ được yêu cầu để đánh giá xem bệnh nhân có phải là người hiến tạng tiềm năng hay không. Tuy nhiên, các thủ thuật xâm lấn có thể cần thiết để đánh giá thêm về việc hiến tạng và các thủ thuật này không nên được thực hiện trước khi bệnh nhân được tuyên bố là chết não.
Chết não được xác định bằng cách thực hiện hai lần khám lâm sàng, test ngưng thở và xét nghiệm xác nhận cách nhau 24 đến 48 giờ bởi các bác sĩ được đào tạo trong lĩnh vực này (tiêu chí cụ thể về chết não sẽ được đề cập trong một chủ đề khác). Nếu không thể xác định được tình trạng chết não, bệnh nhân có thể được đánh giá đối với tiềm năng hiến tạng sau khi chết tim (DCD). Tóm tắt quy trình đồng ý hiến tạng được trình bày trong Bảng 2.
| Tiếp nhận sự đồng ý cho việc hiến tạng |
|---|
|
Một số bệnh nhân cần các thủ thuật xâm lấn khác để xác định khả năng là ứng cử viên cho việc hiến tạng tiềm năng. Ví dụ bao gồm đặt ống thông tim để đánh giá bệnh động mạch vành, sinh thiết hạch để đánh giá bệnh hạch (lyphadenopathy) và, đối với người nhận phù hợp hơn, các thủ thuật phẫu thuật khác để loại trừ bệnh ác tính đối với các phát hiện ngẫu nhiên. Nếu cần thực hiện các thủ thuật trước phẫu thuật, việc này phải được phối hợp giữa các bác sĩ chuyên khoa phù hợp (tức là bác sĩ tim mạch can thiệp hoặc bác sĩ phẫu thuật) và nhóm ICU nhằm chăm sóc bệnh nhân tối ưu.
Khi một bệnh nhân đã được tuyên bố là chết não và được coi là ứng cử viên phù hợp để hiến tạng, mục tiêu của chăm sóc ICU tập trung vào việc duy trì chức năng cơ quan đích và bảo đảm tưới máu. Chết não có thể gây rối loạn chức năng huyết động và rối loạn trao đổi chất trên diện rộng, với các tác động bất lợi lên các cơ quan dự kiến cho cấy ghép. Một số vấn đề lâm sàng áp dụng cho người hiến tạng chết não, tương tự như các vấn đề ở nhóm được xem xét cho DCD (chết tim), sẽ được thảo luận trong các phần tiếp theo và được tóm tắt trong Sơ đồ 1. Cộng đồng cấy ghép ngày càng cân nhắc cấy ghép tạng bằng cách sử dụng tạng hiến sau chết tim mà không có chết não. Các kỹ thuật mới hơn như máy bơm để duy trì tưới máu thận hoặc tưới máu phổi ngoài cơ thể đã cho phép mở rộng việc sử dụng tạng, đặc biệt trong bối cảnh DCD.
Sơ đồ 1. Các mục tiêu xử trí chính đối với người hiến tạng
PHÁC ĐỒ QUẢN LÝ NGƯỜI HIẾN TẠNG
Bình thường hóa huyết động
Chết não có thể gây rối loạn chức năng tim cũng như giãn mạch, từ đó làm giảm tưới máu cơ quan đích ở người hiến tạng tiềm năng. Xử trí tim mạch ở người hiến tạng tiềm năng nhằm ngăn ngừa tụt huyết áp (huyết áp động mạch trung bình [MAP] < 60 mm Hg) và tối ưu hóa cung lượng tim (CO).
Hạ huyết áp thường gặp ở bệnh nhân chết não. Điều trị ban đầu tập trung vào tăng thể tích để áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP) lớn hơn 12 mm Hg. Việc thiết lập thể tích máu phù hợp là yếu tố then chốt nhằm đảm bảo huyết áp và tưới máu cho cơ quan đích. Có thể cần sử dụng dung dịch tinh thể, dung dịch keo và các chế phẩm máu (tức là khối hồng cầu, huyết tương tươi đông lạnh, v.v.) để đạt thể tích máu bình thường, đặc biệt ở các nạn nhân bị chấn thương nội thường có tình trạng mất thể tích quá mức do xuất huyết.
Nếu huyết áp vẫn giảm dai dẳng trong bối cảnh đã hồi sức thể tích và CVP đạt mức phù hợp, cần đặt catheter động mạch phổi (PAC) để đánh giá cung lượng tim (CO) và sức cản mạch máu hệ thống (SVR). SVR thấp (dưới 400 dynes/s/cm2) hoặc giảm khả năng co bóp của tim là các nguyên nhân phổ biến gây hạ huyết áp kháng trị. Trong bối cảnh SVR thấp, có thể cần dùng thuốc vận mạch để duy trì tưới máu cơ quan đích. Các thuốc vận mạch thường dùng gồm truyền dopamine (5 đến 10 mcg/kg/phút) hoặc truyền norepinephrine (2 đến 12 mcg/phút), với MAP mục tiêu >60 mm Hg.
Chết não gây suy giảm chức năng tim do mất nhạy cảm với thụ thể beta của tim và có thể làm trầm trọng thêm các nguyên nhân khác gây rối loạn chức năng tim ở người hiến tạng như ngừng tim, tổn thương tim kín hoặc thoát vị thân não. Khi giảm khả năng co bóp của tim, có thể sử dụng thuốc tăng co bóp (inotropic) và tăng nhịp tim (chrotropic) để cải thiện chức năng tim với chỉ số tim (CI) mục tiêu lớn hơn 2 L/phút/m2. Các lựa chọn thuốc bao gồm dopamine (5 đến 10 mcg/kg/phút) hoặc dobutamine (2 đến 5mcg/kg/phút).
Ở những bệnh nhân vẫn còn huyết động không ổn định sau khi đã truyền thể tích thay thế và điều trị bằng thuốc vận mạch, kèm thuốc tăng co bóp, liệu pháp thay thế hormone có thể là lựa chọn tiềm năng. Mặc dù cơ chế chưa được làm rõ đầy đủ, liệu pháp hormone có vẻ ổn định trục vùng dưới đồi–tuyến yên, trục này thường bị rối loạn điều hòa ở bệnh nhân chết não do thiếu hụt hormone tuyến giáp và cortisol. Những người hiến tạng bị hạ huyết áp đang dùng thuốc vận mạch lớn hơn 10 mcg/kg/phút cần nhận hormone tuyến giáp (4,0 mcg), methylprednisolone (15 mg/kg), vasopressin (1 đơn vị) và insulin với truyền liên tục cho đến thời điểm thu nhận tạng.
Tăng huyết áp đáng kể hiếm khi gặp ở bệnh nhân chết não; nếu xuất hiện thì thường liên quan đến thoát vị thân não. Tăng huyết áp với huyết áp tâm trương lớn hơn 100 mm Hg cần được điều trị nhằm tránh rối loạn nhịp tim. Natri nitroprusside là phương pháp điều trị được lựa chọn. Tránh điều trị kéo dài bằng nitroprusside do nguy cơ ngộ độc Cyanide.
Tối ưu chức năng phổi
Chức năng phổi có vai trò quan trọng đối với tất cả người hiến tạng nhằm duy trì trao đổi khí đầy đủ, nhưng đặc biệt thiết yếu ở những người hiến phổi tiềm năng. Các biện pháp thông thường để cải thiện chức năng phổi bao gồm hút dịch tiết định kỳ, vỗ rung ngực và thay đổi tư thế/ xoay trở bệnh nhân. Liệu pháp giãn phế quản có thể hỗ trợ làm thông thoáng đường thở, ngăn ngừa xẹp phổi và tránh phù phổi.
Nội soi phế quản hữu ích trong cả bối cảnh chẩn đoán—để đánh giá xem bệnh nhân có phải là người hiến phổi tiềm năng hay không—và trong bối cảnh điều trị bằng cách làm sạch các nút nhầy và dịch tiết để tối ưu hóa chức năng phổi. Ngoài ra, vệ sinh răng miệng đầy đủ giúp giảm nguy cơ viêm phổi liên quan đến thở máy (VAP). Thông khí cơ học cần được điều chỉnh để phòng ngừa xẹp phổi, viêm phổi và phù phổi.
Bệnh nhân chết não có thể phát triển phù phổi do đáp ứng viêm toàn thân và thần kinh. PEEP (áp lực dương cuối thì thở ra) có thể được sử dụng với mục tiêu từ 5 đến 10 cm H2O để bù cho tình trạng tăng tính thấm mao mạch trong phù phổi, đồng thời duy trì độ giãn nở phế nang. Tuy nhiên, PEEP cao hơn 10 cm H2O có thể làm giảm hồi lưu tĩnh mạch và ảnh hưởng bất lợi đến cung lượng tim. Cài đặt máy thở cần được tối ưu hóa để duy trì PaCO2 động mạch ở mức 40 đến 45 mm Hg và, bất cứ khi nào có thể, FiO2 ở mức ≤ 0,6 nhằm giảm thiểu nguy cơ ngộ độc oxy.
Nên tránh tăng thể tích máu ở bệnh nhân có tiềm năng hiến phổi. Quản lý thể tích thận trọng, thường dựa trên CVP hoặc thông tin từ catheter động mạch phổi (PAC), nhằm cân bằng giữa nhu cầu đạt tưới máu cơ quan đích và nguy cơ tích tụ dịch ngoại mạch trong phổi.
Điều chỉnh rối loạn cân bằng acid–bazơ và điện giải
- Lượng nước tiểu >500 mL/giờ
- Natri huyết thanh >155 mEq/L
- Trọng lượng riêng của nước tiểu <1,005
- Độ thẩm thấu huyết thanh >305 mOsm/L
Duy trì thân nhiệt bình thường
CÁC TRUNG TÂM HIẾN TẠNG CHUYÊN BIỆT
TÓM LẠI
Tài liệu tham khảo
- Management of the Organ Donor. Critical Care 2018.