GIỚI THIỆU
Các biểu hiện thường gặp gồm ho, khàn giọng, khó thở, thở rít (stridor - rít thì hít vào), phập phồng cánh mũi, sử dụng các cơ hô hấp phụ, co rút cơ liên sườn, với tiến triển có thể dẫn đến tím tái và không đáp ứng. Đặc biệt, stridor là dấu hiệu nặng, phản ánh mức độ hẹp đường thở ít nhất 25%. Khi bệnh nhân ở tình trạng nguy kịch hô hấp, đường thở có thể bị hẹp ở mức ít nhất 50%.
Các nguyên nhân thường gặp gây tắc nghẽn đường hô hấp trên được trình bày trong Bảng 1.
| Bảng 1: Căn nguyên và điều trị đặc hiệu đối tắc nghẽn đường hô hấp trên theo vị trí | ||
|---|---|---|
| Vị trí tắc nghẽn | Căn nguyên | Điều trị đặc hiệu |
|
Mũi họng (Nasopharynx) |
Polyp mũi | Steroid nhỏ mũi, phẫu thuật |
| Khối U mũi, U lympho | Xạ trị, phẫu thuật, hóa trị | |
| Phì đại VA | Cắt VA | |
| Chấn thương | Chỉnh hình xương gãy, trích rạch khối máu tụ | |
| Nhét gạc mũi | Kháng sinh dự phòng viêm xoang, oxy ẩm | |
|
Miệng họng (Oropharynx) |
Viêm sàn miệng (đau Ludwig) | Kháng sinh, dẫn lưu, có thể cần mở khí quản |
| Áp xe nguồn gốc từ răng | Kháng sinh, dẫn lưu | |
| Áp xe hậu hầu(sau họng) | Kháng sinh, dẫn lưu | |
| Áp xe quanh Amydan | Kháng sinh, dẫn lưu | |
| Phì đại Amydan | Cắt Amydan | |
| Lưỡi to(không đau) | Điều trị hỗ trợ, mở khí quản | |
| Phù mạch | Kháng histamin, steroid, epinephrine(xem bài viết) | |
| Hội chứng Stevens-Johnson | Chăm sóc hỗ trợ, mở khí quản | |
| U lympho Burkitt | Hóa - xạ trị | |
| K tuyến nước bọt | Phẫu thuật cắt bỏ | |
| Gãy xương hàm mặt Le Fort 2 và 3 | Mở khí quản, cố định | |
| Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn(OSA) | CPAP, phẫu thuật loại bỏ mô thừa - tạo hình lưỡi gà - màn hầu - cắt bỏ amydan..(UPPP), mở khí quản | |
|
Thanh quản hạ họng (Laryngopharynx) |
Viêm nắp thanh quản | Kháng sinh |
| Viêm thanh khí quản cấp do vi khuẩn (bạch hầu) | Kháng sinh | |
| U tân sinh: ung thư biểu mô tế bào vảy, u nhú | Cắt bỏ, loại bỏ bằng Laser | |
| Phù mạch | Kháng histamin, steroid, epinephrine(xem bài viết) | |
| Viêm khớp dạng thấp | Corticosteroid, mở khí quản | |
| Viêm đa sụn tái phát | Corticosteroid, mở khí quản | |
| U hạt Wegener | Corticosteroid, cyclophosphamide, mở khí quản | |
| U hạt ác tính dòng giữa | Xạ trị | |
| Tổn thương do ống nội khí quản: hẹp dưới thanh môn | Cắt bỏ, nong, liệu pháp làm lạnh bằng nitơ lỏng | |
| Chấn thương, bỏng, tổn thương do hít | Mở khí quản | |
| U máu | Laser, dùng steroid vào trong tổn thương, mở khí quản | |
| Hít phải dị vật, răng rơi vào đường thở | Nội soi | |
| Do điều trị: co thắt thanh quản, chảy máu mũi | Điều trị hỗ trợ | |
Các hình từ 1 đến 3 mô tả các mốc giải phẫu của đường thở trên, đồng thời giới thiệu một bộ phẫu thuật mở màng nhẫn giáp cơ bản và minh họa các khía cạnh thực hành của việc thực hiện tiếp cận đường thở trong phẫu thuật mở đường thở cấp cứu.
VIÊM NẮP THANH QUẢN (THANH THIỆT) VÀ VIÊM THANH QUẢN NHIỄM TRÙNG
Ở người lớn, hình ảnh điển hình thường thấy là bệnh nhân chảy nước dãi, vẻ mặt nhiễm độc và tư thế ngồi thẳng kiểu kiềng ba chân. Những bệnh nhân này có nguy cơ cao tắc hoàn toàn đường thở và cần được điều trị bằng kháng sinh tiêm tĩnh mạch (IV) theo kinh nghiệm. Các lựa chọn kháng sinh bao gồm ceftriaxone, 2 g IV mỗi 24 giờ hoặc TMP-SMX, 10 mg/kg/ngày chia 6 giờ một lần nếu dị ứng với penicilin.
Nhân viên y tế có kinh nghiệm xử trí đường thở khó cần được huy động sớm để đánh giá bệnh nhân, đồng thời phải đưa vào phòng khám một bộ dụng cụ mở khí quản cấp cứu. Nếu việc thăm khám được thực hiện bằng nội soi ống mềm (sợi cáp quang), thì tốt nhất là tiến hành với kế hoạch dự phòng và trang thiết bị sẵn sàng tại chỗ trong trường hợp bệnh nhân cần chuyển sang phẫu thuật mở đường thở. Việc kiểm tra cần được tiến hành thận trọng nhằm tránh gây hẹp thêm đường thở.
Trong các trường hợp viêm nắp thanh quản, nắp thanh quản thường biểu hiện sưng và cứng. Bệnh bạch hầu đặc trưng bởi giả mạc màu xám phủ phía sau hầu họng. Cấy máu đôi khi có thể dương tính với vi khuẩn, và chụp X quang cổ bên có thể cho thấy nắp thanh quản bị sưng.
Bệnh nhân không nên được đưa ra khỏi đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU) để tiến hành bất kỳ thăm dò nào và không nên để bệnh nhân một mình. Phần lớn bệnh nhân cải thiện nhanh chóng với kháng sinh; trường hợp không đáp ứng làm gia tăng lo ngại về sự phát triển của áp xe mô mềm trong khoang cạnh hầu. Đối với bệnh nhân mắc bệnh bạch hầu, cần đồng thời sử dụng kháng độc tố từ ngựa và kháng sinh nhóm macrolide.
PHÙ MẠCH
Điều trị được tiến hành bằng thuốc kháng histamine, steroid và epinephrine, cùng với quản lý đường thở theo đúng sơ đồ đã đề cập. Cần lưu ý rằng các can thiệp dược lý này không tác động đến con đường bradykinin; do đó có nghi vấn về hiệu quả điều trị. Tuy vậy, các liệu pháp này vẫn được sử dụng thường quy do chẩn đoán đôi khi chưa chắc chắn và lo ngại về khả năng sốc phản vệ trên lâm sàng.
Đối với bệnh nhân thiếu hụt di truyền chất ức chế C1 esterase, đáp ứng với điều trị sớm bằng icatibant (chất đối kháng chọn lọc thụ thể bradykinin B2). Các lựa chọn điều trị bổ sung cho nhóm bệnh nhân này gồm huyết tương tươi đông lạnh (chứa một lượng nhỏ chất ức chế C1 esterase), chất ức chế C1 cô đặc tinh khiết hoặc Ecallantide (chất ức chế kallikrein).
THỞ RÍT (STRIDOR) KHI HÍT VÀO SAU RÚT ỐNG NỘI KHÍ QUẢN
Thở rít (stridor) xuất hiện ở 15% bệnh nhân sau khi rút ống nội khí quản; trong đa số trường hợp, nguyên nhân là phù nề thanh quản. Các nguyên nhân ít phổ biến hơn trong bối cảnh này gồm co thắt thanh quản và dịch tiết nằm trong đường thở.
-
Các yếu tố nguy cơ gây phù thanh quản sau rút ống nội khí quản bao gồm: giới tính nữ, thời gian đặt nội khí quản kéo dài, sử dụng ống nội khí quản có đường kính lớn hơn, tiền sử đặt nội khí quản khó, và áp lực bóng chèn (cuff) của ống nội khí quản cao.
-
Phòng ngừa phù thanh quản sau rút ống nội khí quản bao gồm chọn ống nội khí quản phù hợp với đường thở của bệnh nhân và theo dõi áp lực bóng chèn để duy trì dưới 25 mm Hg. Đồng thời cần lưu ý trên X-quang ngực để bảo đảm bóng chèn không nằm trong khoang dưới thanh môn, mà ở phần khí quản xa hơn.
-
Đánh giá độ thông thoáng của đường thở trước khi rút ống nội khí quản có thể thực hiện bằng cuff leak test (test khả năng rò rỉ khí qua bóng chèn đã được làm xẹp). Đây là test đơn giản, không xâm lấn tại giường bệnh, dựa trên sự khác biệt giữa thể tích khí lưu thông khi hít vào (Vti) và thể tích khí lưu thông khi thở ra (Vte) khi bóng chèn đã được xả khí. Trước khi tiến hành test, cần hút sạch dịch tiết kỹ lưỡng ở đường hô hấp trên. Sau khi xả khí bóng chèn, phải tiếp tục hút dịch tiết ở khí quản để tránh hít sặc dịch tiết từ hầu họng và hạn chế dịch tiết tích tụ phía trên bóng chèn (dịch tiết trên bóng chèn là nguyên nhân phổ biến gây viêm phổi liên quan thở máy). Độ nhạy và độ đặc hiệu của test này thay đổi đáng kể giữa các thử nghiệm lâm sàng và phụ thuộc vào giá trị ngưỡng rò rỉ khí được lựa chọn. Nhìn chung, kiểm tra rò rỉ khí qua bóng chèn hữu ích trong việc nhận diện bệnh nhân có nguy cơ phù thanh quản sau rút ống thấp (giá trị tiên đoán âm tính cao). Các phương pháp đánh giá đường thở bổ sung gồm sử dụng siêu âm để đánh giá chiều rộng cột khí và nội soi thanh quản bằng video hoặc nội soi qua ống soi mềm; tuy nhiên các kỹ thuật này chưa được xác nhận trên các nhóm bệnh nhân cỡ lớn.
-
Ở những bệnh nhân không có rò rỉ khí và đồng thời có thêm các yếu tố nguy cơ phù thanh quản sau rút ống nội khí quản như đã nêu, nên dùng ít nhất 2 liều steroid dự phòng; liều đầu tiên được khuyến cáo tiêm từ 4 giờ đến ít nhất 12 giờ (ưu tiên) trước khi rút ống nội khí quản. Chiến lược này đã chứng minh làm giảm nguy cơ phù thanh quản sau rút ống nội khí quản.
-
Xử trí ngay lập tức ở bệnh nhân phù thanh quản cấp tính sau rút ống nội khí quản nên bao gồm khí dung epinephrine dạng racemic (được pha loãng với dung môi), nhằm gây co mạch tại chỗ và giảm phù nề. Phần lớn bác sĩ cũng sử dụng các đợt ngắn (48 giờ) corticosteroid tiêm tĩnh mạch; tuy nhiên hiện không có dữ liệu ngẫu nhiên hỗ trợ cho chiến lược này. Ở những bệnh nhân có dấu chứng nguy kịch hô hấp, lựa chọn an toàn nhất là đặt lại ống nội khí quản để bảo đảm đường thở. Các lựa chọn bổ sung có thể cân nhắc ở bệnh nhân không nguy kịch hô hấp gồm thở khí heliox, có khả năng làm giảm sức cản đường thở và giảm công hô hấp, nhờ đó tạo thời gian cho steroid phát huy tác dụng. Thông khí không xâm lấn (NIV) ở những bệnh nhân được lựa chọn cẩn thận đã được mô tả; tuy nhiên, ở những bệnh nhân có dấu chứng nguy kịch hô hấp và có hẹp đường thở tiến triển, việc trì hoãn đặt nội khí quản có thể gây nguy hiểm và cần thận trọng khi sử dụng các chiến lược này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
-
Upper Airway Obstruction. Critical Care 2018
-
Emergency cricothyrotomy (cricothyroidotomy)
-
Bài dịch. Upper Airway Obstruction. Critical Care 2012. Nguyễn Đạt Anh