FCCS: Thở máy

Post key: cc37c845-8363-55b3-8d9d-015494f2ddbd
Slug: fccs-tho-may
Excerpt: Trong suy hô hấp với giảm oxy máu hoặc tăng CO₂ máu không đáp ứng các biện pháp khác, hỗ trợ thông khí áp lực dương là cần thiết. Bài này trình bày chỉ định và nguyên tắc dùng thông khí áp lực dương không xâm lấn (NPPV/NIV) qua mặt nạ hoặc Helmet; cơ chế hoạt động (IPAP/EPAP, CPAP/PSV), lựa chọn giao diện (mặt nạ mũi-miệng ưu tiên; lưu ý rò khí, nguy cơ chướng căng dạ dày, tổn thương do áp lực, hạn chế khả năng hút đờm sâu) và theo dõi để phát hiện thất bại và nhu cầu đặt nội khí quản. Khi cần thở máy xâm lấn, bài hướng dẫn các bước chọn mode thở và thiết lập khởi đầu: chiến lược FiO₂ ban đầu 100% rồi chuẩn độ SpO₂/PaO₂ mục tiêu; thể tích khí lưu thông 6–8 mL/kg theo cân nặng dự đoán (giảm còn 4–6 mL/kg khi phổi kém giãn nở như ARDS để giới hạn Pplat ≤30 cmH₂O); chọn tần số để đạt thông khí phút phù hợp và mục tiêu pH; thiết lập PEEP nhằm duy trì phế nang mở cuối thì thở ra, tránh gây/ làm nặng tình trạng auto-PEEP (đặc biệt ở bệnh nhân tắc nghẽn). Đồng thời mô tả theo dõi trong quá trình thở máy và nhận diện các biến cố huyết động ngay sau bắt đầu (tràn khí màng phổi áp lực, giảm hồi lưu do tăng áp lực lồng ngực, auto-PEEP, thiếu máu cục bộ/nhồi máu cơ tim cấp). Cuối cùng, bài nêu tiêu chí và chiến lược sẵn sàng cai thở máy xâm lấn (SBT, SpO₂/PaO₂, PEEP, pH, khả năng bảo vệ đường thở và làm sạch dịch tiết) để giảm nguy cơ thất bại rút ống nội khí quản.
Recognized tags: icu, dieu-tri, theo-doi, ca-lam-sang

GIỚI THIỆU

Khi suy hô hấp gây giảm oxy máu hoặc tăng CO 2 trong bối cảnh không đáp ứng các biện pháp điều trị khác, hỗ trợ bằng thông khí áp lực dương có thể là cần thiết (như đã thảo luận trong chủ đề Chẩn đoán và xử trí suy hô hấp).
Sơ đồ tiếp cận
MỤC TIÊU:
  • Thảo luận về các chỉ định và kỹ thuật thông khí áp lực dương không xâm lấn (NPPV).
  • Mô tả các thông số lâm sàng cần được xem xét để xác định liệu bệnh nhân có thất bại với các phương pháp không xâm lấn hay không và có cần chuyển sang thở máy xâm nhập hay không.
  • Mô tả đặc điểm của các kiểu thở và chế độ (Mode) thở máy.
  • Tóm tắt các cài đặt máy thở và các nội dung theo dõi cần khi bắt đầu thở máy.
  • Trình bày các tương tác giữa các thông số thở máy và các điều chỉnh cần thiết nhằm hạn chế tác hại do thông khí.
  • Xem lại các hướng dẫn về thiết lập/khởi đầu máy thở ban đầu trong từng tình huống lâm sàng cụ thể.
CA LÂM SÀNG:
Một bệnh nhân nữ 67 tuổi mắc COPD nặng được chuyển đến với than phiền triệu chứng tại bệnh đường hô hấp trên và tăng khó thở trong 2 ngày. Bệnh nhân đã sử dụng máy khí dung tại nhà nhưng không đạt hiệu quả giảm triệu chứng. Dấu hiệu sinh tồn ghi nhận: HA 140/90 mmHg, tần số tim 122 nhịp/phút, hô hấp 32 nhịp/phút và nhiệt độ 37.2 o C. Khám lâm sàng nổi bật có sử dụng cơ hô hấp phụ và khò khè (Wheezing ran rít thì thở ra) lan tỏa hai phổi. Bệnh nhân tỉnh táo nhưng không thể nói thành câu đầy đủ. Phân tích khí máu động mạch cho thấy pH 7.25, PaCO 2 62 mmHg và PO 2 59 mmHg. Liệu pháp giãn phế quản được bắt đầu và bệnh nhân được dùng Steroids tĩnh mạch.
  • Nên khởi đầu loại hỗ trợ hô hấp nào?
  • Các thiết lập cần lựa chọn để hỗ trợ hô hấp gồm những gì?
  • Mục tiêu của hỗ trợ hô hấp là gì?
Máy thở là một thiết bị dùng để hỗ trợ hoặc thay thế chức năng của hệ hô hấp. Thông khí áp lực dương có thể được cung cấp theo đường không xâm lấn qua mặt nạ hoặc mũ Helmet, hoặc theo đường xâm lấn qua ống nội khí quản. Các chỉ định được chấp nhận chung để bắt đầu hỗ trợ thông khí áp lực dương được tóm tắt trong Bảng 1.
Bảng 1: Các chỉ định hỗ trợ thông khí áp lực dương
Bất thường thông khí
Rối loạn cơ hô hấp:
  • Suy cơ hô hấp
  • Bất thường thành ngực
  • Bệnh thần kinh cơ
Giảm điều khiển thông khí
Tăng kháng lực đường thở và/hoặc tắc nghẽn
Bất thường Oxy
Giảm Oxy máu kháng trị
Cần áp lực dương cuối thì thở ra
Thay đổi công thở
Cần để giảm công thở
  • Sốc
  • Yếu cơ hô hấp
  • Toan máu nghiêm trọng
Các tình trạng khác
  • Cần để an thần và/hoặc chẹn thần kinh cơ
  • Cần để giảm nhu cầu oxy hệ thống hoặc cơ tim
  • Sử dụng tăng thông khí để giảm áp lực nội sọ
  • Tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động phế nang và ngăn ngừa xẹp phổi
Việc lựa chọn giữa thông khí áp lực dương không xâm lấn và xâm lấn phụ thuộc vào đặc điểm bệnh nhân, loại và mức độ nghiêm trọng của rối loạn hô hấp và/hoặc toàn thân, diễn biến lâm sàng dự kiến, nguồn lực sẵn có, kinh nghiệm và đào tạo của bác sĩ lâm sàng và nhóm chăm sóc sức khỏe.

THÔNG KHÍ ÁP LỰC DƯƠNG KHÔNG XÂM NHẬP

Thông khí áp lực dương không xâm nhập là gì ?

Thông khí áp lực dương không xâm nhập (NPPV - Noninvasive postive pressure vetilation) là một phương thức hỗ trợ hô hấp bằng thở máy nhưng không cần thực hiện thở nhân tạo xâm lấn. Các lợi ích tiềm năng của NPPV tương tự như thông khí xâm nhập, bao gồm giảm công thở, cải thiện oxy hóa và cải thiện trao đổi khí. Ngoài ra, phương thức này giúp tránh nhiều biến chứng liên quan đến đặt nội khí quản và thở máy xâm nhập. Những ưu điểm và nhược điểm tiềm năng của NPPV được trình bày trong bảng 2.
Bảng 2: Ưu điểm và nhược điểm của thông khí áp lực dương không xâm lấn
Ưu điểm
  • Giảm nhu cầu an thần
  • Bảo tồn phản xạ bảo vệ đường thở
  • Tránh chấn thương đường hô hấp trên
  • Giảm tỷ lệ mắc bệnh viêm mũi xoang bệnh viện
  • Cải thiện sự thỏa mái bệnh nhân
  • Thời gian nằm ngắn hơn trong ICU và bệnh viện
  • Cải thiện khả năng sống còn
Nhược điểm
  • Hội chứng không gian kín
  • Tăng khối lượng công việc cho nhân viên chăm sóc hô hấp
  • Tổn thương áp lực mặt/mũi
  • Đường thở không được bảo vệ và viêm phổi
  • Không có khả năng hút đờm đường thở sâu
  • Làm chướng căng dạ dày khi sử dụng Face Mask hoặc Helmet
  • Có thể phù chi trên, huyết khối tĩnh mạch nách, rối loạn chức năng màng nhĩ và tiếng ồn bên trong khi sử dụng Helmet
  • Chậm trễ trong đặt nội khí quản

NPPV hoạt động như thế nào?

NPPV sử dụng hai mức áp lực đường thở dương, kết hợp phương thức thông khí hỗ trợ áp lực (PSV) và áp lực đường thở dương liên tục (CPAP) (sẽ được thảo luận thêm). Theo quy ước, phương thức PSV được gọi là IPAP (áp lực đường thở dương thì hít vào), còn phương thức CPAP được gọi là EPAP (áp lực đường thở dương thì thở ra). Việc chỉ sử dụng CPAP vẫn có thể cung cấp thông khí không xâm lấn nhưng không cung cấp hỗ trợ. CPAP cho phép bệnh nhân thở tự nhiên từ nguồn khí ở áp suất hệ thống cơ bản tăng cao (cao hơn áp suất khí quyển) và tương đương về mặt chức năng với áp lực dương cuối thì thở ra (PEEP). Chênh lệch giữa hai mức áp lực này (∆P) quyết định thể tích khí lưu thông tạo ra.
NPPV có thể được áp dụng cho thông khí ICU tiêu chuẩn hoặc dùng cho thiết bị lưu động. Các lợi ích khi sử dụng máy thở chuyên cho ICU gồm: cung cấp nồng độ oxy chính xác hơn và cao hơn; tách biệt ống dẫn hít vào và thở ra để ngăn ngừa hít lại CO 2 ; các tính năng theo dõi và báo động tốt hơn; và cải thiện khả năng phát hiện rò rỉ khí. Thiết lập báo động có thể cần được điều chỉnh trên máy thở tiêu chuẩn vì các cảnh báo thường được kích hoạt theo thì thở ra, trong khi thông khí không xâm lấn vốn có rò rỉ khí nhiều hơn so với thông khí qua ống nội khí quản. Máy thở được thiết kế riêng để cung cấp hỗ trợ áp lực không xâm lấn do bệnh nhân kích hoạt hoặc các nhịp thở chu kỳ thể tích do bệnh nhân kích hoạt, nhằm tối ưu hóa đồng bộ.

Những loại mặt nạ có sẵn ?

Máy thở có thể được kết nối chặt chẽ với Face mask (mặt nạ mũi-miệng), nasal mask (mặt nạ mũi), nasal plungs (dạng phích cắm vào mũi) hoặc Helmet (mũ bảo hiểm) ( Hình 1 ). Đối với nhiều bệnh nhân bị đợt cấp suy hô hấp và thở bằng miệng, Face Mask được ưu tiên do liên quan với mức rò rỉ nhỏ hơn so với Nasal plugs và Nasal mask. Các thiết bị kiểu đường mũi có thể tạo ra trở kháng đáng kể đối với dòng khí, từ đó làm hạn chế lợi ích của NPPV. Một số rò rỉ khí có thể được dự đoán trước ở cả hai nhóm giao diện mặt nạ và có thể được bù trừ bằng cách tăng áp lực cài đặt hoặc tăng mức thể tích khí lưu thông (VT) đã đặt. Khi sử dụng mặt nạ mũi, bệnh nhân cần ngậm miệng (giữ miệng đóng kín) hoặc dùng dây đeo cằm để giảm rò rỉ.
Hình 1. Thiết bị cung cấp thông khí áp lực dương không xâm lấn(NPPV)
Ví dụ về thiết bị thông khí áp lực dương không xâm lấn: A, mặt nạ; B, mặt nạ toàn phần; C, mặt nạ mũi có dây đeo cằm; và D, mũ bảo hiểm Helmet.
Gần đây, việc sử dụng mũ bảo hiểm Helmet làm giao diện cho thiết bị NPPV ngày càng tăng. Mức PEEP có thể truyền qua mũ bảo hiểm Helmet thường cao hơn mức đạt được bằng các giao diện khác hoặc bằng ống thông (cannula) qua mũi dòng cao (HFNC). Lợi ích của mũ bảo hiểm Helmet bao gồm tính thoải mái, hỗ trợ bệnh nhân di chuyển tự do hơn hoặc duy trì một phần nhu cầu tiêu thụ (ăn uống), ví dụ như uống bằng ống hút nếu cần. Ngoài ra, ít ghi nhận tổn thương da và vết rách da hơn. Đánh giá thể tích khí lưu thông (Vt) thường khó khăn khi sử dụng mũ bảo hiểm Helmet vì độ căng thay đổi. Các nhược điểm có thể bao gồm tiếng ồn, tích tụ CO 2 trong mũ bảo hiểm Helmet và tình trạng không đồng bộ giữa bệnh nhân và máy thở do độ nhạy kích hoạt (trigger) kém hơn.

Bệnh nhân nào được hưởng lợi từ NPPV?

Trước khi triển khai thông khí áp lực dương không xâm lấn (NPPV), cần đánh giá đặc điểm lâm sàng của người bệnh và khả năng thành công đối với tình trạng hô hấp nền. Bảng 3 tổng hợp các tình trạng dẫn đến suy hô hấp có thể cải thiện khi áp dụng NPPV. Trong số các chỉ định, đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và phù phổi do tim (CPE) là hai tình trạng được nghiên cứu đầy đủ nhất và đã được chấp nhận chỉ định NPPV. Sau khi sàng lọc bệnh nhân phù hợp, có thể áp dụng cách tiếp cận bắt đầu NPPV theo Bảng 4.

NPPV đạt hiệu quả tốt nhất ở bệnh nhân còn tỉnh táo, có khả năng hợp tác và dự kiến tình trạng hô hấp sẽ cải thiện trong 24 đến 48 giờ. Ứng viên tiềm năng cần có huyết động ổn định, kiểm soát được dịch tiết đường thở và có khả năng đồng bộ với máy thở. Trong trường hợp không có nhân viên y tế đủ kinh nghiệm để thực hiện NPPV, bệnh nhân quá nặng đối với hình thức hỗ trợ này, hoặc NPPV không mang lại lợi ích lâm sàng, cần chuyển nhanh sang thở máy xâm lấn.

Bảng 3. Các tình trạng hô hấp có khả năng đáp ứng với NPPV
Suy hô hấp giảm Oxy máu
  • Phù phổi do tim mà không có mất ổn định huyết động
  • Suy hô hấp ở bệnh nhân viêm phổi do Pneumocystis nhẹ đến trung bình
  • Suy hô hấp ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch (đặc biệt ở bệnh nhân mắc bệnh ác tính về huyết học và bệnh nhân ghép tạng)
  • Suy hô hấp do nguyên nhân có thể hồi phục trong vòng 48–72 giờ
Suy hô hấp tăng CO2 máu
  • Đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)
  • Đợt cấp của bệnh hen phế quản
  • Suy hô hấp ở bệnh nhân xơ nang
Bảng 4. Bắt đầu NPPV
  1. Không trì hoãn đặt nội khí quản khi cần thiết và cân nhắc tình trạng hồi sức của bệnh nhân.
  2. Thực hiện phân tích ABG trước khi bắt đầu.
  3. Giải thích quy trình cho người bệnh.
  4. Giữ đầu giường ở ≥45°.
  5. Đảm bảo kích thước mặt nạ (Mask) hoặc mũ bảo hiểm Helmet phù hợp.
  6. Đánh giá khả năng dung nạp của bệnh nhân với Mask bằng cách áp Mask bằng tay trước khi thắt (cố định bằng quai đeo) dây an toàn.
  7. Sử dụng các cài đặt máy thở ban đầu sau đây:
    • Chế độ (Mode): Thở tự nhiên
    • Kích hoạt (Trigger): Độ nhạy tối đa
    • FiO2: 100%
    • EPAP: 4-5 cm H2O (mức cao hơn ban đầu bị kém dung nạp)
    • IPAP: 10-15 cm H2O
    • Tần số dự phòng (Backup rate): Bắt đầu ở mức 6 nhịp thở/phút
  8. Điều chỉnh chênh lệch giữa EPAP và IPAP để đạt và giải phóng CO2 hiệu quả ở thì thở thích hợp. Điều chỉnh EPAP để huy động phế nang với mức tăng 2 cm H2O mỗi bước nhằm cải thiện oxy hóa. Tùy thuộc vào máy thở, có thể cần tăng IPAP tương tự để duy trì cùng một Vt. Vt sẽ được xác định trên máy NPPV theo từng nhịp thở của bệnh nhân.
  9. Nếu sử dụng thông khí hỗ trợ kiểm soát thể tích (ACV), hãy bắt đầu với Vt từ 6 đến 8 mL/kg (tùy thuộc vào tình trạng căn bản của phổi).
  10. Chuẩn độ áp lực, thể tích và FiO2 để đạt pH, PaO2 và PaCO2 thích hợp. Có thể thay đổi máy thở sau mỗi 15 đến 30 phút.
  11. Theo dõi các dấu hiệu sinh tồn, đo độ bão hòa oxy xung mạch (SpO2), tình trạng ý thức, biểu hiện lâm sàng và ABG (nếu được chỉ định).
  12. Lưu ý mục tiêu NPPV có thể bao gồm nhịp thở <30 nhịp/phút, Vt >6-8 mL/kg trọng lượng cơ thể dự đoán (PBW), trao đổi khí được cải thiện và sự thoải mái của bệnh nhân.
  13. Chú ý quan trọng: IPAP > 20 cm H2O có thể dẫn đến chướng căng dạ dày.
Chữ viết tắt: ABG, khí máu động mạch; EPAP, áp lực đường thở dương khi thở ra; IPAP, áp lực đường thở dương khi hít vào; NPPV, thông khí áp lực dương không xâm lấn; Vt, thể tích khí lưu thông.

Bệnh nhân được theo dõi như thế nào khi sử dụng NPPV?

Tránh đặt IPAP > 20 cm H2O vì có thể gây căng chướng dạ dày.

Bệnh nhân đang sử dụng NPPV cần được theo dõi sát trong môi trường phù hợp. Đồng thời cần đo nồng độ oxy xung mạch (SpO2) và theo dõi liên tục tim mạch (Monitor ECG, HR, BP). Đánh giá theo dõi lâm sàng phải bao gồm kiểm tra độ pH, PaO2 và PaCO2. Cân nhắc chuyển sang thông khí xâm lấn khi không ghi nhận xu hướng cải thiện rõ ràng trong 1 hoặc 2 giờ đầu, hoặc khi không đạt mục tiêu điều trị trong 4 đến 6 giờ đầu.

Thuốc an thần cần được dùng thận trọng và phải được theo dõi đầy đủ ngay khi bắt đầu NPPV. Các biện pháp hỗ trợ có thể xem xét thêm, gồm miếng dán (Patch) bảo vệ miệng và mũi để phòng ngừa tổn thương do áp lực, đồng thời giải áp lực dạ dày (đặt sonde dạ dày) nếu sử dụng mặt nạ (Face Mask) hoặc mũ bảo hiểm Helmet. Nên hạn chế ăn uống bằng đường miệng cho đến khi bệnh nhân ổn định và không còn đặt ra nhu cầu cân nhắc đặt nội khí quản.

Sơ đồ đánh giá NPPV được trình bày trong Hình 2.

Hình 2. Đánh giá thông khí áp lực dương không xâm lấn(NPPV)
Chữ viết tắt: ARF, suy hô hấp cấp; NPPV, thông khí áp lực dương không xâm lấn.

QUYẾT ĐỊNH ĐẶT NỘI KHÍ QUẢN

Quyết định bắt đầu thở máy xâm lấn là một lựa chọn quan trọng và phụ thuộc thời gian. Việc trì hoãn đặt nội khí quản, thiếu khả năng xác định đường thở khó và không dự đoán trước các hậu quả huyết động có thể xảy ra khi đặt nội khí quản đều có thể làm giảm cơ hội đạt kết cục tốt cho bệnh nhân. Thực hành lâm sàng thường dựa vào ba câu hỏi nhanh tại giường bệnh để hỗ trợ đưa ra quyết định kịp thời tiến hành thở máy xâm lấn, đặc biệt khi chuyển từ thở máy không xâm lấn.

  • Có thất bại trong việc duy trì hoặc bảo vệ đường thở hay không (ví dụ: không có khả năng xử lý chất tiết)?
  • Hỗ trợ hô hấp hiện tại (oxy hóa, thông khí hoặc công thở) có không đạt được mục tiêu điều trị mong muốn hay không?
  • Bệnh có được dự đoán sẽ nặng hơn trong 24 đến 48 giờ tới hay không?

Ca lâm sàng(được tiếp tục)

Thông khí áp lực dương không xâm lấn (NPPV) được bắt đầu. Sau 2 giờ điều trị, bệnh nhân có biểu hiện sử dụng cơ phụ dai dẳng và tình trạng ý thức thay đổi. Các số liệu sinh tồn hiện tại cho thấy nhịp tim 130 nhịp/phút, huyết áp 160/90 mm Hg, nhịp thở 32 nhịp/phút và nhiệt độ 36,6°C (98°F). Khí máu động mạch (ABG) ghi nhận pH 7,27, PCO2 60 mm Hg và PO2 90 mm Hg. Hiện bệnh nhân đã lơ mơ.

THỞ MÁY XÂM LẤN

Thông khí cơ học qua ống nội khí quản thường được sử dụng để hỗ trợ bệnh nhân trong hồi sức tích cực. Đây là một can thiệp mang tính quyết định, nhằm đạt được mức oxy hóa và thông khí chấp nhận được khi đảm bảo đường thở an toàn.

Mỗi chu kỳ hô hấp khi thở máy có thể được phân thành hai giai đoạn: hít vào và thở ra (Hình 3A).

  • Kích hoạt (Trigger) (A) báo hiệu giai đoạn chuyển từ thở ra sang hít vào; (B) kết thúc thì hít vào; chu kỳ (C) biểu thị giai đoạn chuyển từ hít vào sang thở ra. Tổng chu kỳ hô hấp (ABCD), hít vào (ABC) và thở ra (CD).
  • Bắt đầu hít vào (A), bắt đầu thở ra (B), hít vào (AB), thở ra (BC) và tổng chu kỳ hô hấp (ABC).

Chu kỳ hô hấp là khoảng thời gian tính từ khi bắt đầu một nhịp thở cho đến khi bắt đầu nhịp thở tiếp theo. Kích hoạt (A) đánh dấu sự chuyển đổi từ thở ra sang hít vào; chu kỳ (C) biểu thị sự chuyển đổi từ hít vào sang thở ra. Các thành phần còn lại của chu kỳ hô hấp toàn phần (ABCD) bao gồm tạm dừng thì hít vào (BC), phần hít vào (ABC) và thì thở ra (CD). Nhịp thở tự nhiên không bao gồm phần tạm dừng thì hít vào. Chu kỳ hô hấp tự nhiên (ACD) được thể hiện trong Hình 3B.

Hình 3. Chu kỳ hô hấp trong quá trình thở máy và thở tự nhiên
Hít vào (Inspiration) là thời điểm van thở ra đóng lại và khí mới đi vào lồng ngực dưới áp lực do máy thở cung cấp. Lượng khí cấp trong thì hít vào được quyết định bởi một hoặc nhiều mục tiêu trong số ba mục tiêu có thể cài đặt trên máy thở: thể tích (Volume), áp lực (Pressure) và/hoặc lưu lượng (Flow).
Chu kỳ (Cycle) là sự chuyển đổi từ kết thúc thì hít vào sang giai đoạn thở ra. Chu kỳ được kích hoạt bởi một trong ba tham số: thời gian hít vào thở ra (Time-Cycled), thể tích đã cung cấp (Volume-Cycled) hoặc giảm xuống theo tốc độ dòng (Flow-Cycled). Trong thì thở ra, dòng khí do máy thở ngừng cung cấp và mạch (Circuit) thở ra mở để cho khí thoát khỏi phổi theo cơ chế thụ động. Quá trình này tiếp tục cho đến khi bắt đầu thì hít vào tiếp theo.
Kích hoạt (Trigger) là sự chuyển đổi từ thở ra sang hít vào. Nhịp thở do máy thở kích hoạt phụ thuộc vào tương tác của bệnh nhân với máy thở.
  • Nhịp thở được hỗ trợ (Assisted Breath): Bệnh nhân khởi phát một nỗ lực hít vào và nỗ lực này tạo ra sự sụt giảm áp lực đường thở hoặc làm chuyển hướng dòng khí hằng định trong hệ thống dây máy thở. Từ tín hiệu này, máy thở cung cấp một nhịp thở. Đây là ví dụ của thở máy kiểm soát một phần.
  • Nhịp thở không được hỗ trợ (Unassisted), bắt buộc (Mandatory) hoặc được kiểm soát (Control): Trong trường hợp không có sự tương tác của bệnh nhân với máy thở, máy sẽ cung cấp nhịp thở dựa trên khoảng thời gian đã trôi qua (ví dụ: cài đặt 10 nhịp thở/phút và không phát hiện nỗ lực bệnh nhân, máy sẽ kích hoạt mỗi 6 giây). Đây là ví dụ của thở máy kiểm soát hoàn toàn.
Cũng có thể có thở tự nhiên (không có sự hỗ trợ của máy thở) trong thông khí bắt buộc ngắt quãng đồng thì (SIMV) và thông khí hai mức áp lực (Bilevel). Các nhịp thở của máy thở phổ biến nhất sẽ được mô tả sau. CPAP cho phép thở tự nhiên ở áp lực cao hơn mức nền.

CÁC LOẠI CHU KỲ NHỊP THỞ

Nhịp thở theo chu kỳ thể tích (Volume-Cycled Breath)

Nhịp thở theo chu kỳ thể tích, thường được gọi là nhịp thở hỗ trợ kiểm soát thể tích (volume assist-control), bảo đảm cung cấp thể tích khí lưu thông (Vt) được cài đặt trước (trừ trường hợp vượt quá giới hạn áp lực đỉnh). Trên đa số máy thở, việc cài đặt tốc độ dòng đỉnh thì hít vào (peak inspiratory flow rate) và lựa chọn dạng sóng lưu lượng thì hít vào (hình vuông [square], hình sin [sine] hoặc hình giảm tốc [xuống dốc - ramp]) quyết định thời gian thì hít vào. Một số máy thở có thể điều chỉnh tốc độ dòng đỉnh hít vào nhằm duy trì thời gian hít vào hằng định không đổi khi chuyển giữa dạng sóng lưu lượng hình vuông (square) hằng định và dạng sóng lưu lượng giảm tốc (dốc - ramp).
Với các nhịp thở theo chu kỳ thể tích, khi sức cản đường thở (airway resistance) hoặc độ giãn nở (compliance) của phổi/thành ngực xấu đi sẽ làm tăng áp lực đỉnh thì hít vào (Ppeak) để vẫn đạt thể tích khí lưu thông (Vt) đã cài đặt (trừ khi vượt quá giới hạn áp lực đỉnh; khi đó máy thở sẽ ngừng phần còn lại của nhịp thở để tránh tạo áp lực hít vào quá cao).

Nhịp thở theo chu kỳ thời gian (Time-Cycled Breath)

Nhịp thở theo chu kỳ thời gian, thường được gọi là nhịp thở hỗ trợ kiểm soát áp lực (pressure assist-control breath), áp dụng một mức áp lực hằng định không đổi trong một thời gian đã xác định. Việc duy trì áp lực trong suốt thì hít vào tạo nên dạng sóng áp lực theo thời gian: dạng sóng áp lực hình vuông (square) hằng định trong thì hít vào và dạng sóng lưu lượng thì hít vào giảm tốc (ramp) khi chênh lệch áp lực giữa máy thở và bệnh nhân giảm dần (vì áp lực tăng khi phổi lấp đầy). Ở kiểu thở này, lưu lượng (flow) có thể thay đổi, do đó thể tích khí lưu thông cũng thay đổi tùy thuộc vào độ giãn nở (compliance) của phổi. Lưu lượng chịu ảnh hưởng bởi sức cản (resistance) của phổi, độ giãn nở (compliance) của phổi và nỗ lực của bệnh nhân.
Theo đó, bất kỳ thay đổi nào về sức cản đường thở hoặc độ giãn nở của phổi/thành ngực sẽ làm thay đổi thể tích khí lưu thông cung cấp (tức là khi sức cản đường thở hoặc độ giãn nở của phổi xấu đi, thể tích khí lưu thông sẽ giảm).

Nhịp thở theo chu kỳ lưu lượng (Flow-Cycled Breath)

Nhịp thở theo chu kỳ lưu lượng (dòng), thường được gọi là nhịp thở hỗ trợ áp lực (pressure support breath), là một chế độ (mode) thông khí tự nhiên. Bệnh nhân khởi xướng từng nhịp thở và máy thở cung cấp mức hỗ trợ với giá trị áp lực được cài đặt trước. Với sự hỗ trợ này, bệnh nhân tự điều chỉnh tần số thở (RR) và thể tích khí lưu thông (Vt). Mức hỗ trợ áp lực hít vào đã được thiết lập được giữ hằng định không đổi theo lưu lượng giảm tốc (ramp).
Bệnh nhân kích hoạt (trigger) tất cả các nhịp thở. Những thay đổi về tính chất cơ học của phổi/lồng ngực và/hoặc mức độ nỗ lực của bệnh nhân sẽ ảnh hưởng đến thể tích khí lưu thông (Vt) được cung cấp. Mức hỗ trợ áp lực cần được hiệu chỉnh để đạt mục tiêu thông khí mong muốn.
Nhịp thở hỗ trợ áp lực (PS) kết thúc khi tốc độ dòng (flow rate) giảm xuống còn một tỷ lệ phần trăm được xác định trước của tốc độ dòng đỉnh ban đầu (thường là 25%). Khi nỗ lực hít vào của bệnh nhân giảm, lưu lượng cũng giảm, từ đó đánh dấu thời điểm gần kết thúc thì hít vào.

CÁC CHẾ ĐỘ (MODE) THỞ MÁY

Chế độ thông khí mô tả cách một hoặc nhiều loại nhịp thở của máy thở tương tác với bệnh nhân nhằm cung cấp thông khí hỗ trợ. Khi bắt đầu thở máy, cần xác định chế độ hỗ trợ thở máy tối ưu phù hợp với tình huống lâm sàng và nhu cầu cụ thể của người bệnh. Các chế độ thông khí thường dùng gồm thông khí hỗ trợ-kiểm soát (Assist-Control; AC), thông khí bắt buộc ngắt quãng đồng thì (Synchronized Intermittent Mandatory Ventilation; SIMV) và thông khí hỗ trợ áp lực (Pressure Support Ventilation; PSV). Các chế độ khác nhau hình thành từ một số kết hợp của 3 loại nhịp thở của máy thở và có thể kèm áp lực dương cuối thì thở ra (PEEP).

Thông khí hỗ trợ-kiểm soát (Assist-Control Ventilation)

Thông khí hỗ trợ-kiểm soát (AC) có thể được thực hiện bằng nhịp theo chu kỳ thể tích (Volume-cycled) (hỗ trợ-kiểm soát thể tích) hoặc theo chu kỳ thời gian (Time-cycled) (hỗ trợ-kiểm soát áp lực). Trong phần này, nhấn mạnh đến kiểm soát thể tích vì đây là chế độ được sử dụng phổ biến nhất.
Trong AC thể tích, Vt (thể tích khí lưu thông) đặt trước được đảm bảo ở tốc độ dòng cài đặt và với tần số thở (Respiratory Rate - RR) tối thiểu đã đặt. Người bệnh có thể khởi phát nhịp thở và kích hoạt (Trigger) máy thở; khi đó, máy thở hỗ trợ (Assist) đạt được Vt đặt trước được cung cấp với lưu lượng (flow) cài đặt. Vì vậy, người bệnh nhận được số nhịp thở tối thiểu tương ứng tần số cài đặt (RR tối thiểu), nhưng tổng số nhịp thở thực tế sẽ tăng nếu người bệnh kích hoạt thêm nhịp bằng nỗ lực hít vào bổ sung.
Khi sử dụng AC phù hợp, công thở có thể giảm đáng kể. Tuy nhiên, nếu máy thở và bệnh nhân không đồng bộ hoặc tốc độ dòng hít vào của máy thở không phù hợp với nhu cầu của người bệnh, chế độ này có thể làm tăng công thở của người bệnh.
Tổng số nhịp thở trong quá trình thông khí AC có thể cao hơn RR cài đặt tối thiểu, tùy thuộc vào cơ chế điều khiển hô hấp của người bệnh và khả năng kích hoạt máy thở. Chế độ này còn được gọi là thông khí bắt buộc liên tục (CMV - continuous mandatory ventilation). Tuy nhiên, CMV phản ánh chính xác hơn trong bối cảnh người bệnh không kích hoạt thêm nhịp thở (tức là mất khả năng điều khiển hô hấp, ví dụ khi bệnh nhân liệt cơ [sẽ thảo luận ở phần tiếp theo]).
Một dạng khác của AC là kiểm soát áp lực. Áp lực và thời gian hít vào được cài đặt, do đó nhịp thở được cung cấp với một tốc độ nhất định mỗi phút. Trong kiểm soát áp lực, giá trị áp lực cài đặt là tham số được kiểm soát, còn thời gian là tín hiệu kết thúc thì hít vào. Thể tích khí lưu thông (Vt) mà người bệnh nhận được phụ thuộc vào các thông số cài đặt và độ giãn nở (compliance) của phổi. Lưu lượng (flow) được xác định bởi áp lực cài đặt, tỷ lệ hít vào:thở ra (I:E), sức cản (resistance) và độ giãn nở (compliance) của phổi cũng như nỗ lực của người bệnh. Khi độ giãn nở giảm hoặc sức cản tăng, Vt sẽ giảm; ngược lại, khi độ giãn nở tăng hoặc sức cản giảm thì Vt sẽ tăng.

Thông khí hỗ trợ áp lực (Pressure Support Ventilation - PSV)

PSV cung cấp mức áp lực hỗ trợ hít vào đặt trước cho mỗi nỗ lực hít vào của bệnh nhân được máy thở phát hiện. Mục tiêu của hỗ trợ hít vào này là khắc phục sự gia tăng công thở do quá trình bệnh, ống nội khí quản, van hít vào và các yếu tố cơ học khác liên quan đến hỗ trợ thông khí. Mức áp lực đã cài đặt được áp dụng sẽ làm tăng từng nhịp thở do người bệnh kích hoạt. Tất cả các nhịp thở đều theo chu kỳ lưu lượng (Flow-cycled) (thông thường, hỗ trợ giảm tốc khi lưu lượng giảm < 25% tốc độ lưu lượng ban đầu tạo ra bởi nhịp thở do người bệnh). Tần số thở và nỗ lực của người bệnh ảnh hưởng mạnh đến thời gian hít vào, tốc độ dòng và Vt. Ngoài ra, Vt được cung cấp chịu ảnh hưởng bởi độ giãn nở và sức cản của phổi; những thay đổi nhanh trong các thông số này có thể làm thay đổi Vt và công thở. PSV có thể được phối hợp với SIMV (xem phần tiếp theo), chủ yếu như một phương tiện để giảm công thở quá mức đối với các nhịp thở tự nhiên (spontaneous breaths) xảy ra giữa các nhịp thở bắt buộc.

PSV làm tăng nỗ lực hô hấp của chính người bệnh và được điều chỉnh tối ưu bằng cách quan sát những thay đổi về tần số thở, Vt và mức độ thoải mái của người bệnh.

Lượng áp lực hỗ trợ được chuẩn độ theo Vt của bệnh nhân, được đo bởi máy thở trong khi thở ra. Các thiết lập được đề xuất nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu sau:
  • Vt từ 6 đến 8 mL/kg, tùy thuộc vào nhu cầu của người bệnh
  • Tần số thở tự nhiên chậm lại đến phạm vi chấp nhận được (< 30 nhịp thở/phút)
  • Thông khí phút mong muốn
Cảnh báo ngưng thở và cài đặt thông khí dự phòng (mode backup) phù hợp là điều cần thiết. Lợi ích tiềm năng của PSV bao gồm sự thoải mái và khả năng dung nạp mà chế độ này mang lại cho một số người bệnh. Bên cạnh đó, PSV có thể làm giảm công thở bằng cách giảm mức độ mất đồng bộ giữa người bệnh và máy thở. Thông thường, khi hỗ trợ áp lực tăng ở người bệnh mắc bệnh phổi, công thở và tần số thở của người bệnh giảm, trong khi Vt tăng lên. Với PSV, rò rỉ vòng bít (cuff - bóng chèn) của ống nội khí quản có thể cản trở chu kỳ thở thích hợp do dòng (flow) có thể không bao giờ giảm xuống ngưỡng cài đặt trước cho chu kỳ (tức là 25% tốc độ dòng đỉnh).

Thông khí bắt buộc ngắt quãng đồng thì (Synchronized Intermittent Mandatory Ventilation - SIMV)

SIMV cung cấp các nhịp thở theo chu kỳ thể tích hoặc theo chu kỳ thời gian ở tốc độ bắt buộc (mandatory) được cài đặt trước. Chu kỳ theo thể tích được sử dụng phổ biến nhất cho các nhịp thở bắt buộc. Kiểu thông khí này có thể không phù hợp với người bệnh nặng cần Vt cố định cho từng nhịp thở và phụ thuộc hoàn toàn vào sự hỗ trợ của máy thở. Nhịp thở có thể được kích hoạt (trigger) bởi người bệnh hoặc theo thời gian trôi qua (time-elapsed). Nếu nhịp do người bệnh khởi phát rơi vào một khoảng thời gian nhất định trước khi bắt đầu nhịp thở bắt buộc (Mandatory), máy thở sẽ đồng bộ hóa hỗ trợ bằng cách cung cấp nhịp thở bắt buộc sớm, do đó về cơ bản chuyển nhịp thở được kiểm soát sang nhịp thở được hỗ trợ. Số nhịp được đồng bộ theo cách này tương ứng tần số cài đặt trước (bắt buộc). Khi không phát hiện nỗ lực nào, máy thở sẽ cung cấp Vt đặt trước ở tần số cài đặt trước (theo thời gian trôi qua - thời gian cho 1 nhịp thở). Khi người bệnh bắt đầu nhịp thở vượt quá tần số bắt buộc đã đặt một cách tự nhiên, các nhịp thở này thường được hỗ trợ bởi máy thở (nhịp thở hỗ trợ) với việc bổ sung hỗ trợ áp lực (PS).

Lưu ý khác biệt so với thông khí hỗ trợ-kiểm soát (AC)—thông khí kiểm soát thể tích (VCV), trong đó mỗi nhịp thở (do người bệnh hoặc máy thở bắt đầu) đều được đảm bảo cùng Vt.
Trong SIMV, nên bổ sung hỗ trợ áp lực (PS) cho các nhịp tự nhiên của bệnh nhân, sử dụng giá trị bù đắp cho sức cản của ống nội khí quản. Đồng bộ hóa giúp cải thiện mức độ đồng bộ của máy thở với người bệnh bằng cách cung cấp các nhịp thở máy cài sẵn kết hợp với nỗ lực hít vào của người bệnh đối với mỗi nhịp thở bắt buộc.

Khuyến cáo sử dụng PSV kết hợp với SIMV để giảm công thở của bệnh nhân khi thở tự nhiên.

Chế độ SIMV cho phép người bệnh “đóng phần” và xác định một phần nhu cầu thở máy của họ. Áp lực hít vào âm do nhịp tự nhiên tạo ra có thể làm tăng lượng máu tĩnh mạch hồi lưu trở về bên phải của tim, qua đó có thể cải thiện cung lượng tim (CO) và chức năng tim mạch. Khi không bổ sung hỗ trợ áp lực (PS), khả năng tăng công thở có thể làm trì hoãn việc cai thở máy.

Thông khí cơ học được kiểm soát (Controlled Mechanical Ventilation - CMV)

CMV cung cấp các nhịp thở của máy thở không được hỗ trợ với tần số (RR) đặt trước. Tất cả các nhịp thở đều là bắt buộc và theo chu kỳ thể tích (Volume-cycled) hoặc chu kỳ thời gian (Time-cycled). Không có nhịp thở hỗ trợ tự nhiên bổ sung nào được bắt đầu vượt quá số nhịp thở được kiểm soát đã đặt. Trên máy thở hiện tại, không thể cài CMV trực tiếp; do đó, chế độ này chỉ đạt được ở những người bệnh không có khả năng tạo nỗ lực hô hấp tự nhiên, chẳng hạn như bệnh nhân được dùng thuốc an thần nặng hoặc sử dụng thuốc chẹn thần kinh cơ trong phẫu thuật dưới gây mê.

Không nhầm lẫn cài đặt CMV (hỗ trợ-kiểm soát A-C) trên máy thở hiện đại với thông khí cơ học được kiểm soát.

CPAP và cai thở máy

CPAP hiếm khi được sử dụng như phương thức hỗ trợ ban đầu cho người bệnh suy hô hấp cấp tính đã được đặt nội khí quản và không được coi là một chế độ thở máy. Trong CPAP, áp lực dương liên tục được duy trì suốt chu kỳ hô hấp trong khi người bệnh thở tự nhiên xung quanh áp lực đó. Do đó, tần số thở (RR) và Vt phụ thuộc hoàn toàn vào nỗ lực hít vào của người bệnh (mà không có sự hỗ trợ của máy thở) khi người bệnh hít vào chống lại sức cản của ống nội khí quản. CPAP với mức hỗ trợ áp lực thấp (thường là 5-7 cm H 2 O) có thể được sử dụng để cai máy thở ở giai đoạn sau của thông khí xâm lấn khi người bệnh đang được đánh giá về khả năng sẵn sàng rút ống nội khí quản.
Biểu đồ áp lực (Pressure) đường thở và dòng (Flow) của hô hấp tự nhiên, CPAP và các chế độ thở máy khác nhau được minh họa trong Hình 4.
Hình 4. Biểu đồ minh họa Áp lực(Pressure) đường thở và dòng(Flow)
Ưu điểm và nhược điểm của các phương thức thở máy xâm lấn khác nhau được tóm tắt trong Bảng 6. Khi lựa chọn chế độ thông khí, điều quan trọng là cân nhắc các mục tiêu cụ thể, trong đó yếu tố cốt lõi gồm đảm bảo thông khí và cung cấp oxy đầy đủ, giảm công thở và đảm bảo sự thoải mái cũng như đồng bộ của bệnh nhân với máy thở.
Bảng 6. Ưu điểm tiền năng và nhược điểm của các chế độ(mode) thở máy được lựa chọn
Mode Ưu điểm Nhược điểm
Thông khí hỗ trợ-kiểm soát(AC) thể tích
  • Giảm công thở
  • Đảm bảo thông khí phút tối thiểu
  • Kiểu thở thoải mái
  • Áp lực hít vào quá mức
  • Chấn thương do áp lực(Barotrauma)
  • Auto-PEEP
  • Nhiễm kiềm hô hấp
Thông khí hỗ trợ-kiểm soát(AC) áp lực
  • Tốc độ dòng thay đổi
  • Giới hạn áp suất
  • Vt thay đổi
Thông khí hỗ trợ áp lực (PSV)
  • Bệnh nhân thỏai mái
  • Cải thiện tương tác bệnh nhân với máy thở
  • Giảm công thở
  • Nhịp thở của bệnh nhân tăng cường
  • Nhịp thở theo chu kỳ dòng(Flow-cycled)
  • Cảnh báo ngưng thở có thể không kích hoạt chế độ thông khí dự phòng
  • Rò rỉ vòng bít(cuff - bóng chèn) ET có thể ảnh hưởng đến chu kỳ thở
  • Yêu cầu bệnh nhân tự thở
Thông khí bắt buột ngắt quãng đồng thì (SIMV)
  • Nhịp thở theo chu kỳ thể tích hoặc theo chu kỳ thời gian
  • Nhịp thở được bắt đầu bởi bệnh nhân hoặc theo thời gian trôi qua(time-elapsed)
  • Cải thiện tiền tải với hô hấp tự thở áp lực âm
  • Công thở tăng lên so với AC
  • Không phải là chế độ(mode) tốt cho bệnh nhân nặng
  • WOB tăng lên nếu hỗ trợ áp lực(PS) không được thiết lập để hỗ trợ nhịp tự thở
Thông khí cơ học được kiểm soát (CMV)
  • Cho cơ hô hấp nghỉ ngơi hoàn toàn
  • Chỉ theo chu kỳ thể tích hoặc chu kỳ thời gian
  • Cần sử dụng thuốc an thần/chẹn thần kinh cơ
  • Tác dụng bất lợi về huyết động
  • Bệnh nhân không thể kích hoạt(trigger) bất kỳ nhịp tự thở nào
Chữ viết tắ t: AC, hỗ trợ kiểm soát; ET, nội khí quản; Vt, thể tích khí lưu thông; WOB, công thở

CHỌN CHẾ ĐỘ(MODE) VÀ THIẾT LẬP MÁY THỞ BAN ĐẦU

Việc lựa chọn chế độ thở máy phụ thuộc vào chỉ định và diễn tiến của bệnh lý nền. Nhìn chung, AC được sử dụng như chế độ khởi đầu cho các bệnh nhân cần thở máy xâm lấn.
Khi bắt đầu hỗ trợ thở máy cho người lớn, FiO 2 được cài đặt ở mức 100% nhằm bảo đảm có sẵn lượng oxy tối đa trong giai đoạn người bệnh thích nghi với máy và trong các nỗ lực ban đầu để ổn định tình trạng. Nồng độ oxy cao cũng góp phần hạn chế các biến chứng có thể xảy ra trước và trong thời điểm đặt nội khí quản. Thể tích khí lưu thông (Vt) được khuyến cáo thông thường từ 6 đến 8 mL/kg theo cân nặng cơ thể dự đoán (PBW). Không nên sử dụng Vt cao hơn để giảm nguy cơ tổn thương phổi.
Nhịp thở cần được thiết lập phù hợp để đạt thông khí phút (Minute Ventilation - MV) mong muốn. Giá trị thông khí phút bình thường, theo công thức (Vt × tần số thở (RR)), khoảng 7 đến 8 L/phút; tuy nhiên một số tình huống lâm sàng có thể cần mức cao hơn gấp đôi so với giá trị cơ bản. Điều chỉnh thông khí phút để tạo ra PaCO 2 ở mức cho phép đối với tình trạng lâm sàng, qua đó duy trì pH ở mức có thể chấp nhận được.
Theo nguyên tắc chung, FiO 2 , áp lực đường thở trung bình (Pmean) và PEEP ảnh hưởng đến PaO 2 , trong khi RR, khoảng chết (V D ) và Vt chi phối thông khí phút phế nang và PaCO 2 .
Mặc dù pH bình thường hoặc gần bình thường có thể giúp khôi phục chức năng tối ưu của chuyển hóa tế bào cần thiết cho hồi phục ở bệnh nhân nặng, trong một số trường hợp (hội chứng suy hô hấp cấp tính(ARDS) và bệnh phổi tắc nghẽn nặng), mục tiêu của thở máy không phải là bình thường hóa khí máu. Tăng CO 2 và nhiễm toan hô hấp được chấp nhận để dung nạp trong các tình huống này, nhằm đạt các mục tiêu như giảm thiểu căng phồng phổi động (dynamic Hyperinflation) và tránh tổn thương phổi liên quan đến máy thở. Do đó, cài đặt máy thở cần được cá nhân hóa và chuẩn độ trong một quy trình động, điều chỉnh theo nhu cầu thay đổi của người bệnh. Hướng dẫn bắt đầu thở máy được trình bày trong Bảng 7.

Để ước tính cân nặng cơ thể dự đoán ( PBW

  • Nam: = 50 + 2,3 (chiều cao tính bằng inch – 60); = 50 + 0,91 (chiều cao tính bằng cm – 152,4)
  • Nữ: = 45,5 + 2,3 (chiều cao tính bằng inch – 60); = 45,5 + 0,91 (chiều cao tính bằng cm – 152,4)

Công cụ: Tính Vt cho bệnh nhân thở máy dựa theo PBW

Bảng 7. Hướng dẫn bắt đầu thở máy
  1. Chọn chế độ máy thở mà bạn quen thuộc nhất. Mục tiêu chính của thở máy hỗ trợ là cung cấp oxy/thông khí đầy đủ, giảm công thở, đồng bộ giữa bệnh nhân và máy thở, và tránh áp lực phế nang cuối thì hít vào cao.
  2. FiO 2 ban đầu nên là 100%. FiO 2 sau đó có thể được chuẩn độ xuống để duy trì SpO 2 ở mức 92% đến 94%. Trong ARDS, SpO 2 ≥88% có thể được chấp nhận để giảm thiểu các biến chứng của thở máy.
  3. Vt ban đầu = 6 đến 8 mL/kg ở bệnh nhân có độ giãn nở phổi tương đối bình thường. Ở những bệnh nhân có độ giãn nở phổi kém (ví dụ ARDS), Vt mục tiêu từ 4 đến 6 mL/kg theo PBW được khuyến cáo để tránh căng phồng phổi quá mức và duy trì áp lực cao nguyên(Pplat) hít vào ≤30 cm H 2 O.
  4. Chọn tần số thở(RR) và thông khí phút thích hợp cho các yêu cầu lâm sàng cụ thể. Mục tiêu pH, chứ không phải là PaCO 2 .
  5. Sử dụng PEEP trong tổn thương phổi lan tỏa để duy trì phế nang mở ở cuối thì thở ra. Nếu thể tích được giữ không đổi, PEEP có thể làm tăng áp lực đỉnh cao nguyên hít vào, một tác dụng không mong muốn tiềm ẩn trong ARDS. Mức PEEP >15 cm H 2 O hiếm khi cần thiết.
  6. Đặt độ nhạy kích hoạt(Trigger) để cho phép giảm thiểu nỗ lực của bệnh nhân để bắt đầu thì hít vào. Cẩn thận với chu kỳ tự động(auto cycling) nếu cài đặt kích hoạt(trigger) quá nhạy cảm.
  7. Ở những bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh tắc nghẽn đường thở, tránh chọn cài đặt máy thở làm hạn chế thời gian thở ra(Te) và gây ra hoặc làm trầm trọng thêm auto-PEEP.
  8. Gọi cho hội chẩn chuyên khoa hồi sức tích cực hoặc chuyên gia tư vấn thích hợp khác để được hỗ trợ.
Chữ viết tắt: ARDS, hội chứng suy hô hấp cấp tính; PBW, cân nặng cơ thể dự đoán; PEEP, áp lực dương cuối thì thở ra; SpO 2 , độ bão hòa oxyhemoglobin được đo bằng phương pháp đo độ bão hòa oxy xung mạch; Vt, thể tích khí lưu thông

CHĂM SÓC TIẾP TỤC TRONG KHI THỞ MÁY

Sau khi bắt đầu thở máy, cần đánh giá và hiệu chỉnh các thông số dưới đây nhằm đạt được mục tiêu điều trị đã đề ra. Giữa các thiết lập máy thở và hậu quả lâm sàng của mọi thay đổi luôn tồn tại nhiều mối quan hệ qua lại quan trọng; vì vậy, thầy thuốc phải hiểu đầy đủ các cơ chế phụ thuộc lẫn nhau để tránh gây tác động bất lợi lên hệ hô hấp và/hoặc tim mạch. Trong quá trình tiếp tục quản lý máy thở, cần có sự tham vấn của chuyên khoa hồi sức tích cực.

Áp lực hít vào

Trong thông khí hỗ trợ-kiểm soát thể tích áp lực dương, áp lực đường thở tăng dần đến mức áp lực đỉnh hít vào (peak inspiratory pressure) (Ppeak; Hình 5) và đạt giá trị cao nhất ở cuối thì hít vào. Ppeak là tổng áp lực cần thiết để vượt qua sức cản đường thở đồng thời khắc phục lực liên quan đến đặc tính đàn hồi của phổi và thành ngực.
Ppeak, đôi khi còn được gọi là áp lực đỉnh đường thở (peak airway pressure), chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tốc độ dòng (flow rate), đường kính ống nội khí quản, dịch tiết, và mức giảm đường kính các phế quản. Khi áp dụng biện pháp giữ thì hít vào ở cuối thì hít vào, dòng khí sẽ dừng lại, nhờ đó loại bỏ các thành phần động; áp lực khi đó giảm xuống mức đo được gọi là áp suất cao nguyên hít vào (inspiratory plateau pressure) (Pplat).
Pplat phản ánh áp lực cần thiết để khắc phục lực đàn hồi của phổi và thành ngực, và khác với Ppeak ở chỗ đây là áp lực tĩnh. Pplat được xem là ước tính tốt nhất của áp lực đỉnh phế nang và là chỉ số quan trọng về mức độ căng phồng phế nang. Đo Pplat chính xác cần bảo đảm bệnh nhân không gắng sức và duy trì thì hít vào tối thiểu 0,5 giây (thường là 1 giây).
Hình 5. Mối quan hệ giữa áp lực đỉnh hít vào(Ppeak) và áp lực cao nguyên hít vào(Pplat)
Các tác dụng phụ tiềm tàng do áp lực hít vào cao bao gồm chấn thương do áp lực (barotrauma), chấn thương do thể tích (volutrauma) và giảm cung lượng tim (CO). Chấn thương khí áp (tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất) và chấn thương do thể tích (tổn thương nhu mô phổi do căng phồng quá mức) dù liên quan với Ppeak cao, nhưng tương quan tốt nhất lại thuộc về Pplat. Mối quan hệ giữa Ppeak và Pplat được trình bày trong Hình 5.
Hình này mô tả các đường áp lực đường thở đối với thông khí hỗ trợ kiểm soát thể tích điển hình trong bối cảnh độ giãn nở và sức cản bình thường, sức cản đường thở tăng và độ giãn nở hệ hô hấp giảm.
Như đã đề cập trước đó, ảnh hưởng của độ căng phồng phế nang lên mối liên hệ giữa Ppeak và Pplat được minh họa qua tác động của kích thước ống nội khí quản đối với Ppeak và Pplat khi bệnh nhân được thông khí với thể tích cố định. Khi đường kính trong của ống nội khí quản giảm ở bệnh nhân đang được thông khí (thể tích cố định), với Vt tương tự thì Ppeak sẽ tăng cao hơn; tuy nhiên Pplat (được ghi nhận trong quá trình giữ thì hít vào) và mức độ căng phế nang không thay đổi vì áp lực được tiêu tán chủ yếu qua sức cản của ống nội khí quản. Với cùng một Vt, bất kể kiểu/nhịp thở, sẽ tạo ra cùng mức độ căng phế nang ở cuối thì hít vào.
Để giảm nguy cơ chấn thương ở bệnh nhân thở máy, cần duy trì Pplat < 30 cm H2O. Khi độ giãn nở giảm, cả Ppeak và Pplat đều tăng tương ứng với Vt cố định. Do sức cản không thay đổi, khoảng cách giữa áp lực đỉnh (Ppeak) và áp lực cao nguyên (Pplat) không thay đổi.
Pplat tăng cao có thể được làm giảm bằng các biện pháp can thiệp sau:
  • Giảm PEEP; can thiệp này cũng có thể làm giảm quá trình oxy hóa và khiến xẹp phế nang nặng hơn (nếu PEEP được dùng để cải thiện oxy hóa và duy trì ổn định phế nang).
  • Giảm Vt; có thể dẫn đến tăng CO2 do giảm thông khí phút (MV).
  • Tránh và giảm auto-PEEP (xem phần tiếp theo) bằng cách can thiệp kéo dài thời gian thở ra (Te), lưu ý auto-PEEP có thể dẫn đến tăng CO2 máu.

Mối liên hệ giữa thời gian hít vào(Ti) với thời gian thở ra(Te) và auto-PEEP

Nếu thời gian thở ra quá ngắn để đảm bảo thở ra hoàn toàn, nhịp thở trước đó sẽ không thoát hết khí khỏi phổi; do đó nhịp bơm tiếp theo sẽ chồng lên lượng khí còn dư trong phổi. Hậu quả là tình trạng căng phồng phổi quá mức, và PEEP đo được vượt quá mức PEEP cài đặt trên máy thở.
Mức gia tăng áp lực cuối thì thở ra này được gọi là auto-PEEP (PEEP tự động), hay PEEP nội sinh (intrinsic PEEP), vô ý (inadevertent PEEP) hoặc tiềm ẩn (occult PEEP). Auto-PEEP có thể được định lượng bằng các phương pháp thủ công hoặc bằng các chương trình phần mềm (điện tử) trên một số máy thở trong quá trình thực hiện thao tác giữ thì thở ra (Hold Expiratory). Tuy nhiên, chẩn đoán định tính thường dễ dàng nhất bằng quan sát biểu đồ sóng dòng (Flow) theo thời gian (time) trên hầu hết máy thở cơ học, bởi vì dòng thở ra (Expiratory Flow) không đạt đến mức lưu lượng (Flow) bằng 0 trước khi bắt đầu nhịp thở tiếp theo (Hình 6).
Các tác động sinh lý bất lợi tiềm tàng của auto-PEEP đối với áp lực đỉnh đường thở (Ppeak), áp lực cao nguyên (Pplat) và áp lực đường thở trung bình (Pmean) tương tự như các tác động của PEEP cài đặt sẵn. Ngoài ra, mức PEEP cao có thể làm giảm hồi lưu tĩnh mạch về tim, gây hạ huyết áp và làm tăng PCO2 do tăng khoảng chết (dead space) và ảnh hưởng xấu đến oxy hóa (đặc biệt với bệnh phổi không đối xứng).
Hình 6. Dạng sóng Dòng(Flow)/Thời gian(time) thể hiện Auto-PEEP
Viết tắt: PEEP, áp lực dương cuối thì thở ra; FiO2, phân suất(tỷ lệ) oxy hít vào.
Auto-PEEP có thể được giảm bằng các biện pháp can thiệp sau:
  • Giảm tần số thở (RR) bằng cách thay đổi tốc độ (rate) cài đặt hoặc sử dụng an thần cho bệnh nhân. Những can thiệp này làm số lần hít vào trong mỗi phút giảm, nhờ đó tổng thời gian thở ra tăng; đây là cách hiệu quả nhất để giảm auto-PEEP.
  • Giảm Vt; cần ít thời gian hơn để tạo ra một nhịp thở nhỏ hơn và giúp dành nhiều thời gian hơn cho thì thở ra.
  • Tăng tốc độ dòng (Flow rate), cung cấp Vt nhanh hơn và cho phép có thêm thời gian trong chu kỳ thở ra. Can thiệp này có ít tác động trừ khi tốc độ dòng ban đầu ở mức cực thấp. Đồng thời, nó cũng gây tăng áp lực đường thở.
  • Thay đổi dạng sóng hít vào từ giảm tốc (dốc - ramp) sang dạng hằng định không đổi (vuông - square) để tạo Vt trong thời gian ngắn hơn, từ đó có thêm thời gian thở ra.
Như đã thảo luận trước đó, hai biện pháp can thiệp đầu tiên có thể làm tăng CO2 do giảm thông khí phút (MV); tuy nhiên, lợi ích của việc giảm auto-PEEP, dù thông khí phút thấp hơn, có thể dẫn đến ít thay đổi PaCO2. Khi tình trạng bẫy khí nghiêm trọng xảy ra, việc bảo đảm đủ thời gian thở ra có thể cải thiện khả năng thông khí và giúp loại bỏ CO2. Tăng CO2 và giảm độ pH có kiểm soát (tăng CO2 cho phép) có thể được chấp nhận trong một số tình trạng lâm sàng nhưng cần có sự tham vấn của chuyên gia. Cách tiếp cận này không phù hợp với bệnh nhân tăng áp lực nội sọ (ICP) vì tăng CO2 máu gây giãn mạch não và làm tăng thêm áp lực nội sọ.

FiO2

Nồng độ oxy hít vào cao có thể gây bất lợi cho nhu mô phổi sau thời gian phơi nhiễm kéo dài. Dù chưa xác định được ngưỡng chính xác cần cảnh giác, mục tiêu là giảm FiO2 xuống ≤ 50% (50% oxy) trong vòng 24 giờ đầu tiên. Tuy nhiên, tình trạng thiếu oxy máu luôn được xem là nguy cơ lớn hơn đối với bệnh nhân so với mức FiO2 cao.
Các yếu tố chính quyết định oxy hóa trong quá trình thở máy bao gồm FiO2 và áp lực đường thở trung bình (Pmean). Các yếu tố quyết định nhỏ hơn bao gồm Vt, tỷ lệ hít vào-thở ra (I:E), tốc độ dòng hít vào (flow rate), PEEP, auto-PEEP, việc sử dụng tạm dừng thì hít vào (Ti pause) và dạng sóng lưu lượng hít vào (nhịp thở thể tích). Ở bệnh nhân mắc hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS), PEEP trở thành yếu tố chính quyết định áp lực đường thở trung bình. Mối tương quan giữa các thông số khác nhau này, như đã được chứng minh, thường dẫn đến các điều chỉnh phức tạp trong kế hoạch thở máy.

Thông khí phút(MV) và thông khí phế nang(VA)

Thông khí phút (MV), được định nghĩa là lượng khí được trao đổi bởi một cá nhân trong 1 phút, được tính bằng tần số thở (RR) nhân với Vtmean (thể tích khí lưu thông trung bình).
MV = RR x Vtmean

Yếu tố chính quyết định trao đổi CO2 trong quá trình thở máy là thông khí phế nang (VA), được tính theo công thức:
VA = (Vt − Vd) x RR

Trong đó Vd là khoảng chết và RR là tần số hô hấp (Xem: Chuẩn đoán và xử trí suy hô hấp). Vt, RR và mối liên hệ của chúng với các thông số thông khí khác đã được thảo luận. Nhìn chung, Vd sinh lý phản ánh các đơn vị phổi được thông khí tương đối nhưng tưới máu kém. Tác dụng sinh lý của lượng Vd cao là tăng CO2 (độ thanh thải CO2 bị suy giảm). Khoảng chết có thể do tổn thương bệnh lý ở phổi hoặc do thở máy làm nặng thêm bởi áp lực đường thở cao, thể tích nội mạch thấp hoặc cung lượng tim thấp.
Như đã thảo luận trước đó, mức thông khí đầy đủ được đánh giá dựa trên PaCO2 và độ pH. Tăng thông khí dẫn đến PaCO2 thấp có thể là mục tiêu bù trừ ngắn hạn phù hợp trong khi điều chỉnh nguyên nhân chính của nhiễm toan chuyển hóa. Tương tự, bệnh nhân có tăng CO2 mạn tính có PaCO2 nền tăng và duy trì pH gần như bình thường nhờ đáp ứng bù trừ của thận (tăng khả năng giữ lại bicarbonate). Đối với bệnh nhân tăng CO2 máu đã bù trừ mạn tính, cần bảo đảm thông khí phút phù hợp trong quá trình thở máy để duy trì PaCO2 ở mức (mức nền) thông thường; đồng thời cần theo dõi chặt chẽ độ pH để tránh nhiễm kiềm máu nặng và hiện tượng mất bicarbonate được thận giữ lại.

Tạo ẩm

Khí do máy thở cung cấp thường khô, và đường hô hấp trên bị đường thở nhân tạo (ống nội khí quản) bỏ qua; do đó xảy ra mất nhiệt và mất độ ẩm. Trong suốt quá trình thở máy, cần làm ấm và làm ẩm khí cung cấp một cách thường quy nhằm ngăn ngừa tổn thương niêm mạc và giảm thiểu tình trạng tăng tiết. Các hệ thống hiện có gồm máy tạo độ ẩm thụ động (mũi nhân tạo - hay Filter, nối giữa nội khí quản/dây nối và dây máy thở) hoặc hệ thống làm ẩm và làm ấm chủ động có bộ vi xử lý điều khiển (máy tạo độ ẩm có sưởi ấm).
Máy tạo độ ẩm thụ động chống chỉ định khi có nhiều dịch tiết, thông khí phút > 12 L/phút, rò khí > 15% thể tích khí lưu thông (Vt) hoặc có máu trong đường thở.

Sử dụng áp lực dương cuối thì thở ra(PEEP)

Điều chỉnh PEEP là chiến lược nền tảng dùng cho các tình trạng bệnh gây xẹp phế nang hoặc đóng đường thở (ví dụ ARDS). Chiến lược này giúp huy động phế nang và hạn chế tình trạng đóng/mở phế nang lặp lại nhiều lần (atelectrauma - chấn thương do đóng mở phế nang xẹp). Điều chỉnh PEEP trong suy hô hấp do thiếu oxy thứ phát sau ARDS có thể được thực hiện theo sự kết hợp PEEP/FiO2 trình bày trong Bảng 8.

Bảng 8. Đề xuất phối hợp PEEP và FiO2 để đạt mục tiêu PaO2
FiO2(%) 30 40 40 50 50 60 70 70 70 70
PEEP
(cmH2O)
5-14 5-14 8-16 8-16 10-20 10-20 10-20 12-20 14-20
FiO2
(%)
80 80 90 90 90 100 100 100
PEEP
(cmH2O)
14-22 14-22 14-22 16-22 18-22 20-22 22 24
Chữ viết tắt: PEEP, áp lực dương cuối thì thở ra; FiO2, phân suất(tỷ lệ) oxy hít vào.
Ở bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn nặng, có thể cân nhắc áp dụng PEEP bên ngoài (External-PEEP) và thiết lập giá trị gần với mức auto-PEEP để bù lại công thở, qua đó hỗ trợ trigger máy thở. Cần thận trọng và tìm kiếm tham vấn chuyên gia nếu cần đặt PEEP cao hơn để duy trì oxy hóa.

Các liệu pháp dự phòng

Đặt nội khí quản và thở máy làm tăng nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch, loét dạ dày do stress và viêm phổi bệnh viện. Các biện pháp phòng ngừa thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch bao gồm sử dụng thuốc chống đông dự phòng (trừ khi có chống chỉ định) và/hoặc thiết bị ép bằng khí nén (bơm hơi áp lực ngắt quãng) (Xem thêm: Dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân ICU).
Việc sử dụng thuốc ức chế bơm proton (PPI) hoặc thuốc chẹn thụ thể histamine 2 được khuyến cáo để phòng ngừa loét do stress (Xem thêm: Dự phòng xuất huyết tiêu hóa - GBP).
Nguy cơ viêm phổi liên quan đến thở máy (gói thở máy - VAP Bundle) giảm khi nâng đầu giường lên ≥ 30°, vệ sinh răng miệng và đánh giá hằng ngày khả năng cai khỏi thở máy (xem thêm: Cai an thần và cai thở máy).

SỬ DỤNG THUỐC AN THẦN, GIẢM ĐAU VÀ CHẸN THẦN KINH CƠ (GIÃN CƠ)

Đặt nội khí quản và tiến hành thở máy có thể làm bệnh nhân khó chịu, đồng thời gây lo lắng. Để tăng mức độ thoải mái và cải thiện sự đồng bộ giữa bệnh nhân với máy thở, có thể cân nhắc sử dụng thuốc giải lo âu, thuốc an thần và thuốc giảm đau.

Việc sử dụng thuốc ức chế thần kinh cơ cần được tiến hành một cách thận trọng; trước khi khởi đầu điều trị, nên tham khảo ý kiến chuyên gia. Hướng dẫn sử dụng các thuốc này được nêu trong Hướng dẫn thực hành lâm sàng của Hiệp hội y học Hồi Sức Tích Cực về duy trì thuốc chẹn thần kinh cơ ở bệnh nhân trưởng thành(người lớn) bệnh nặng và trong Hướng dẫn thực hành lâm sàng đối với kiểm soát cơn đau, kích động và mê sảng ở bệnh nhân người lớn trong ICU (xem thêm: An thần, giảm đau, giãn cơ trong thở máy ở bệnh nhân ICU).

Ngoài ra, cần thận trọng khi dùng thuốc an thần ở những bệnh nhân không được đặt nội khí quản nhưng đang có suy hô hấp cấp tính hoặc suy hô hấp sắp xảy ra.

HƯỚNG DẪN THỞ MÁY ĐỐI VỚI CÁC TÌNH HUỐNG LÂM SÀNG CỤ THỂ

Ca lâm sàng

Một người đàn ông 36 tuổi trước đây hoàn toàn khỏe mạnh đến bệnh viện với triệu chứng ho, có đờm và sốt kéo dài 2 ngày. X-quang ngực lúc nhập viện ghi nhận thâm nhiễm đang phát triển tại thùy dưới bên trái. Bệnh nhân được nhập vào phòng bệnh nội khoa và bắt đầu điều trị kháng sinh cho viêm phổi mắc phải tại cộng đồng (CAP).

Chưa đầy 24 giờ sau, tình trạng tiếp tục xấu đi và bệnh nhân cần thở oxy với lưu lượng 10 L/phút. Bệnh nhân không biểu hiện suy hô hấp rõ ràng; tuy nhiên, đo độ bão hòa oxy xung mạch cho thấy giảm oxy máu nghiêm trọng (SpO2: 83% đến 89% khi đang bổ sung oxy 10 L/phút). Cấy đàm ghi nhận khuẩn lạc Streptococcus (liên cầu) pyogenes (nhóm A). Đồng thời, phim X-quang ngực mới cho thấy thâm nhiễm phế nang hai bên lan tỏa mới. Do giảm oxy ngày càng trầm trọng, bệnh nhân được đặt nội khí quản.

  • Bác sĩ sẽ lựa chọn cài đặt máy thở ban đầu nào cho bệnh nhân này?
  • Cần thực hiện những bước nào để giảm thiểu chấn thương do áp lực (barotrauma) trong quá trình thông khí?
  • Những thông số nào cần được đo lường và theo dõi?

Hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS)

ARDS làm giảm độ giãn nở (compliance) của phổi, khiến phổi trở nên cứng và khó nở ra, đồng thời gây suy hô hấp do thiếu oxy (xem: Chẩn đoán và xử trí suy hô hấp cấp). Hướng dẫn thở máy trong ARDS được trình bày trong Bảng 8Bảng 9.

Ppeak và Pplat tăng cao làm phức tạp quá trình thở máy do độ giãn nở phổi thấp hoặc sức cản (resistance) đường thở cao. Vì vậy, cần sử dụng Vt thấp hơn (4–6 mL/kg trọng lượng cơ thể dự đoán) và duy trì Pplat ở mức mong muốn ≤ 30 cm H2O; mức tăng CO2 cho phép có thể cần thiết để đạt mục tiêu trên. FiO2 được tăng khi cần nhằm ngăn ngừa tình trạng thiếu oxy máu, nhưng sẽ được giảm ngay khi các biện pháp can thiệp thông khí khác có hiệu quả.

Do shunt tăng trong ARDS, tình trạng thiếu oxy máu có thể trở nên nghiêm trọng. PEEP là biện pháp hiệu quả nhất để cải thiện oxy hóa máu, thường được áp dụng trong khoảng từ 8 đến 15 cm H2O tùy theo mức độ nghiêm trọng của thiếu oxy. Mức PEEP cao hơn có thể được chỉ định trong tổn thương phổi nặng. Mặc dù bệnh nhân ARDS có phần ít nguy cơ phát triển auto-PEEP hơn do yêu cầu về thời gian thở ra bị giảm bởi độ giãn nở phổi giảm (phổi cứng), sự hiện diện của auto-PEEP vẫn cần được theo dõi, đặc biệt ở tỷ lệ hít vào-thở ra (I:E) cao hơn.

Bảng 9 mô tả chiến lược thông khí được khuyến cáo cho bệnh nhân ARDS.

Bảng 8 trình bày các kết hợp FiO2 và PEEP được khuyến cáo.


Bảng 9. Thở máy trong ARDS
Mục tiêu
  • PaO2: 55-80 mm Hg (7,3-10,7 kPa)
  • Pplat: ≤30 cm H2O
  • Vt: 4-6 mL/kg PBW
  • pH: >7,15 là chấp nhận được
Bắt đầu với thông khí hỗ trợ-kiểm soát (AC) với Vt là 8 mL/kg PBW
  • Giảm 1 mL/kg trong 4 giờ tiếp theo cho đến khi đạt được Vt 4-6 mL/kg.
  • Nếu Pplat >30 cm H2O, giảm Vt 1 mL/kg cho đến khi Vt là 4 mL/kg hoặc pH động mạch đạt 7,15.
  • Nếu sử dụng Vt là 4 mL/kg và Pplat <25 cm H2O, Vt có thể tăng thêm 1 mL/kg cho đến khi Pplat là 25 cm H2O hoặc Vt là 6 mL/kg.
  • Nếu Pplat ≤30 cm H2O đã đạt được với Vt >6 mL/kg và Vt thấp hơn là vấn đề về mặt lâm sàng (tức là cần tăng cường an thần), có thể chấp nhận duy trì Vt cao hơn.
Bắt đầu PEEP trong ARDS
  • Bắt đầu PEEP ở mức 5 cm H2O và chuẩn độ tăng dần từng bước 2-3 cm H2O (Bảng 8).
  • Hiệu quả huy động phế nang đầy đủ có thể không rõ ràng trong vài giờ.
  • Theo dõi huyết áp, nhịp tim và PaO2 hoặc đo độ bão hòa oxy xung mạch (SpO2) trong quá trình chuẩn độ PEEP và định kỳ trong khi bệnh nhân đang nhận liệu pháp PEEP.
  • Cài đặt PEEP tối ưu thường là 8-15 cm H2O.
LƯU Ý: Những hướng dẫn này được tóm tắt để tạo điều kiện can thiệp sớm ở những bệnh nhân nguy kịch. Bác sĩ nên làm quen với những tình huống này và tìm kiếm sự tham vấn thích hợp càng sớm càng tốt.
Chữ viết tắt: Pplat, áp lực cao nguyên; Vt, thể tích khí lưu thông; PBW, trọng lượng cơ thể dự đoán; PEEP, áp lực dương cuối thì thở ra.

Ca lâm sàng

Một phụ nữ 28 tuổi có tiền sử hen phế quản (Asthma) được đặt nội khí quản và nhập viện vào ICU vì đợt cấp hen phế quản cấp tính. Áp lực đỉnh đường thở (Ppeak) khi nhập viện là 40 cm H2O, và Pplat là 25 cm H2O ngay sau khi đặt nội khí quản. Tuy nhiên, sau 6 giờ, Ppeak đã tăng lên 55 cm H2O trong khi Pplat vẫn giữ nguyên.

  • Nguyên nhân có thể gây ra Ppeak tăng cao của bệnh nhân trong bối cảnh Pplat không thay đổi là gì?
  • Ngoài hỗ trợ máy thở, bệnh nhân này cần liệu pháp bổ trợ nào để giảm áp lực đường thở tăng cao?
  • Thông số nào (tức là Ppeak hoặc Pplat) liên quan đến nguy cơ chấn thương do áp lực (barotrauma) cao hơn ở bệnh nhân được đặt nội khí quản?

Bệnh tắc nghẽn đường thở

Thông khí cơ học ở bệnh nhân hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) được thiết kế nhằm hỗ trợ oxy hóa và hỗ trợ thông khí cho đến khi tình trạng tắc nghẽn đường thở được cải thiện. Sau khi đặt nội khí quản ban đầu, dịch tiết đường thở và tắc nghẽn đường thở nhỏ dai dẳng có thể biểu hiện bằng Ppeak tăng cao trong khi Pplat vẫn bình thường. Trường hợp này gợi ý tắc nghẽn đường thở (không làm độ giãn nở phổi trở nên tồi tệ hơn) và cần sử dụng tích cực thuốc giãn phế quản và steroid để giúp giảm bớt tình trạng tắc nghẽn trong khi hỗ trợ thở máy. Khi luồng khí (airflow) được cải thiện, bệnh nhân sẽ dung nạp được mức Vt cao hơn và thời gian hít vào dài hơn.

Thông khí cơ học ở nhóm bệnh nhân này cũng có thể gây tình trạng căng phồng phổi quá mức (hyperinflation), Auto-PEEP và dẫn đến hạ huyết áp. Do đó, cần theo dõi sát việc cân bằng chu kỳ thở (Cycle), thời gian hít vào (Ti) và thời gian thở ra (Te) hay I:E. Vt ban đầu nên từ 6 đến 8 mL/kg và thông khí phút được điều chỉnh để độ pH về bình thường thấp. Với thông khí thể tích, tốc độ dòng (Flow rate) thì hít vào phải được đặt để tối ưu hóa tỷ lệ hít vào-thở ra và đảm bảo thở ra hoàn toàn. Quản lý như vậy giúp giảm tình trạng nhịp thở chồng lấp lên nhau và giảm khả năng xuất hiện Auto-PEEP.


Bệnh phổi không đối xứng

Bệnh phổi không đối xứng hoặc tổn thương sau hít sặc, đụng dập hoặc viêm phổi khu trú có thể dẫn đến sự phân bố thông khí và trao đổi khí bất thường trong quá trình thở máy. Do khí được điều hòa bởi máy thở và đi theo con đường có ít sức cản nhất dọc theo hệ thống phế quản, Vt sẽ được phân phối chủ yếu đến phổi ít bị ảnh hưởng hơn (dễ giãn nở hơn) và có thể gây giãn nở quá mức. Sự căng quá mức của phổi ít bị tổn thương hơn và tình trạng giãn nở kém ở phổi bị bệnh/bị tổn thương làm xấu đi mối quan hệ thông khí-tưới máu ở cả hai phổi, dẫn đến giảm oxy và tăng CO2 có thể xảy ra, kéo dài hoặc trầm trọng hơn; đồng thời cũng gây thêm tổn thương cho phổi bình thường (lành).

Do đó, cần bắt đầu cài đặt tiêu chuẩn và các nguyên tắc hỗ trợ thở máy. Tuy nhiên, nếu không đạt hiệu quả, cần tham vấn chuyên gia để hỗ trợ cho các nỗ lực quản lý tiếp theo. Đặt phổi ít liên quan hơn ở tư thế phụ thuộc trọng lực (tư thế nằm nghiêng) có thể hữu ích nhằm hướng lưu lượng máu phổi đến các đơn vị phổi nhận được thông khí tốt hơn. Các kỹ thuật khác, chẳng hạn như thông khí 2 phổi khác nhau, có thể được cân nhắc và có thể cần tham vấn chuyên gia ngay lập tức.


Bệnh tim

Mục tiêu chính của hỗ trợ thông khí ở bệnh nhân thiếu máu cơ tim là giảm công thở và đảm bảo cung cấp đủ oxy cho cơ tim. Việc giảm công thở sẽ làm giảm tiêu thụ oxy của cơ hô hấp, từ đó tăng lượng oxy sẵn có để cung cấp cho tim. Ở bệnh nhân phù phổi do tim được thở máy, ngoài lợi ích từ giảm công thở, còn có thêm lợi ích do giảm tiền tải nhờ việc tăng áp lực trong lồng ngực. Hậu tải thất trái cũng giảm thông qua áp lực dương cạnh tim (juxtacardiac - lên thành cơ tim) trong thì tâm thu.


Bệnh thần kinh cơ

Bệnh nhân mắc bệnh thần kinh cơ ngoại biên thường có bộ phận điều hòa hô hấp còn nguyên vẹn và phổi bình thường. Những bệnh nhân này có thể cần mức Vt cao hơn để tránh cảm giác khó thở. Các điều chỉnh trên các thông số thở máy khác phải được thực hiện nhằm đảm bảo pH động mạch ở mức bình thường.


THEO DÕI HỖ TRỢ THỞ MÁY

Tất cả bệnh nhân đang được hỗ trợ thở máy cần được theo dõi liên tục để nhận định hiệu quả có lợi đồng thời phát hiện sớm các tác dụng phụ bất lợi tiềm tàng của điều trị ( Bảng 10 ). Khí máu động mạch cung cấp thông tin có giá trị về mức độ oxy hóa, thông khí và cân bằng axit–bazơ một cách toàn diện; do đó đặc biệt cần thiết trong giai đoạn khởi đầu của hỗ trợ thở máy và trong thời kỳ bệnh nhân chưa ổn định. Nếu có sẵn, có thể phối hợp máy đo oxy xung mạch (Xem thêm: Theo dõi cân bằng Oxy và tình trạng toan kiềm ) và máy đo CO2 cuối thì thở ra (ETCO2) để theo dõi bổ sung tiến triển của bệnh nhân.

Bảng 10. Khuyến cáo đối với việc theo dõi hỗ trợ thở máy
  • Chụp X quang ngực sau khi đặt nội khí quản và lặp lại theo chỉ định để đánh giá bất kỳ tình trạng xấu đi.
  • Lấy khí máu động mạch sau khi bắt đầu thở máy và định kỳ theo mức độ diễn tiến của tình trạng bệnh nhân.
  • Đo các dấu hiệu sinh tồn thường xuyên và theo dõi trực tiếp bệnh nhân (bao gồm mức độ tương tác giữa bệnh nhân và máy thở).
  • Đo áp lực cao nguyên (Pplat) hít vào khi phù hợp về mặt lâm sàng.
  • Dùng đo oxy xung mạch (SpO2) để theo dõi diễn biến oxy hóa.
  • Sử dụng các cảnh báo của máy thở nhằm theo dõi đồng thời các thông số sinh lý và các thông số liên quan đến hoạt động của máy thở.
Máy thở có sẵn các cảnh báo và màn hình tinh vi để hỗ trợ quản lý người bệnh và nhận diện các sự kiện bất lợi. Khi bắt đầu hỗ trợ thông khí, bác sĩ điều trị thường thiết lập các ngưỡng cảnh báo cho thông khí phút (MV) thấp và cao, áp lực hít vào cao (Pmax) cũng như thể tích khí lưu thông thở ra (Vte) thấp và áp lực thở ra thấp. Nhiều máy thở cho phép đo Auto-PEEP.
Báo động áp lực thấp được thiết lập để cảnh báo bác sĩ lâm sàng về khả năng rò rỉ trong bộ dây máy thở (circuit) hoặc tình trạng bị ngắt kết nối với máy thở. Cảnh báo áp lực cao cho thấy áp lực đỉnh đường thở (Ppeak) tối đa đã được đặt bị vượt quá; cảnh báo (Pmax) này thường được đặt cao hơn áp lực đường thở tối đa (Ppeak) ban đầu của bệnh nhân là 10 cmH2O. Đối với bệnh nhân được thông khí thể tích trong bối cảnh tắc nghẽn chất nhầy (nút nhày) hoặc khi có thay đổi rõ rệt về sức cản đường thở (resistance) hoặc độ giãn nở (compliance) của phổi, Ppeak có thể tăng đột ngột. Nếu trong thông khí thể tích, Ppeak kích hoạt cảnh báo âm thanh, điều đó gợi ý rằng bệnh nhân không nhận được thể tích khí lưu thông (Vt) đã đặt, do thời gian hít vào kết thúc khi vượt quá giới hạn cảnh báo áp lực. Ngược lại, trong các chế độ thông khí áp lực cài đặt trước, các thay đổi sức cản đường thở hoặc độ giãn nở của phổi có thể làm kích hoạt cảnh báo thể tích thở ra (Vte) thấp.

TỤT HUYẾT ÁP LIÊN QUAN ĐẾN BẮT ĐẦU THỞ MÁY

Tràn khí màng phổi áp lực

Khi xuất hiện tình trạng hạ huyết áp ngay sau khi bắt đầu thở máy, tràn khí màng phổi áp lực cần được xem xét như một chẩn đoán cần ưu tiên đánh giá sớm. Chẩn đoán dựa trên khám thực thể: âm thở giảm hoặc mất ở bên tràn khí và gõ trống. Có thể ghi nhận khí quản lệch về phía đối diện với bên tràn khí màng phổi, mặc dù dấu hiệu này ít gặp sau khi đã đặt ống nội khí quản. Điều trị bao gồm giải áp cấp cứu bằng cách đưa một ống thông (catheter) hoặc chọc kim có khẩu kính lớn vào khoang liên sườn thứ hai hoặc thứ ba trên đường trung đòn. Không nên trì hoãn can thiệp để chờ chụp X-quang ngực. Việc đặt ống thông hoặc chọc kim vừa mang ý nghĩa chẩn đoán vừa đồng thời là liệu pháp điều trị: thủ thuật giúp cải thiện huyết áp và làm đảo ngược các dấu hiệu khám thực thể. Sau khi đặt ống thông hoặc chọc kim, phải tiến hành chèn ống ngực (đặt ống dẫn lưu màng phổi) .

Chuyển đổi từ áp lực âm sang áp lực dương trong lồng ngực

Trong điều kiện sinh lý, áp lực trong lồng ngực bình thường hơi âm so với khí quyển. Khi khởi đầu thông khí áp lực dương, áp lực trong lồng ngực sẽ chuyển sang trạng thái dương. Khi áp lực trong lồng ngực tăng, áp lực nhĩ phải tăng lên và chênh lệch áp lực nội mạch đối với máu hồi lưu từ các tĩnh mạch lớn ngoài lồng ngực về tim phải giảm xuống. Hệ quả là lượng máu hồi lưu về tim có thể giảm. Tiền tải thất trái (preload), thể tích nhát bóp (SV), cung lượng tim (CO) và huyết áp (BP) sau đó có thể giảm theo trình tự. Sự suy giảm thể tích nội mạch làm nặng thêm các tác động bất lợi của việc tăng áp lực trong lồng ngực lên cung lượng tim (CO) và huyết áp. Điều trị biến chứng thường gặp này bao gồm hồi sức thể tích bằng bolus dịch truyền nhanh để tăng áp lực tĩnh mạch ngoài lồng ngực và tăng lượng máu tĩnh mạch hồi về tim phải cho đến khi huyết áp tăng lên. Cần theo dõi độ bão hòa oxy để tránh hồi sức dịch quá mức. Đồng thời, các kỹ thuật thông khí có liên quan đến áp lực đường thở trung bình (Pmean) cao có thể làm trầm trọng thêm các hậu quả bất lợi về huyết động của thở máy.

Auto-PEEP

Như đã thảo luận trước đó, auto-PEEP xảy ra khi sự kết hợp giữa thiết lập máy thở và sinh lý bệnh nhân dẫn tới thời gian thở ra không đủ. Tình trạng áp lực cuối thì thở ra vượt mức cho phép làm tăng áp lực trong lồng ngực và có thể gây hạ huyết áp do giảm lượng máu tĩnh mạch hồi lưu trở về tim. Mặc dù auto-PEEP có thể gặp ở bất kỳ bệnh nhân nào, nhưng nhóm bệnh nhân mắc bệnh tắc nghẽn đường thở đặc biệt dễ xuất hiện tình trạng này do cần thời gian thở ra kéo dài.

Thiếu máu cục bộ/nhồi máu cơ tim cấp

Căng thẳng do nguyên nhân suy hô hấp cấp tính, đồng thời là căng thẳng liên quan đến thao tác đặt nội khí quản, có thể làm tăng nhu cầu oxy của cơ tim; từ đó dẫn đến thiếu máu cục bộ cơ tim/nhồi máu cơ tim cấp và hạ huyết áp sau đó. Những bệnh nhân có nguy cơ cao cần được đánh giá bằng điện tâm đồ và các dấu ấn (marker) tổn thương cơ tim theo chuỗi tuần tự.

SẴN SÀNG VÀ VIỆC CAI THỞ MÁY XÂM LẤN

Thông khí cơ học không phải là can thiệp không có nguy cơ; các biến chứng có thể gặp bao gồm và không giới hạn ở nhiễm trùng bội nhiễm, chấn thương thanh quản, rối loạn chức năng cơ hoành và các bệnh lý khác.
Đánh giá mức độ sẵn sàng để cai thở máy nên được thực hiện hằng ngày. Những bệnh nhân có thể thoát khỏi thở máy cần được ngắt kết nối khỏi máy thở sớm nhất có thể mà không làm tăng nguy cơ biến chứng.
Một số thông số và tiêu chí lâm sàng có thể sử dụng như chỉ dấu cho mức độ sẵn sàng cai máy. Dưới đây là các tiêu chí thường được áp dụng:
  • Nguyên nhân chính gây suy hô hấp dẫn đến đặt nội khí quản và thở máy đã được cải thiện đáng kể hoặc đã được giải quyết.
  • Tình trạng ý thức phù hợp để duy trì đường thở (bao gồm khả năng làm sạch dịch tiết).
  • Độ bão hòa oxy (SpO2 hoặc SaO2) thích hợp > 90%, PO2 > 60 mm Hg với FiO2 40–50%
  • PEEP khoảng 5–8 cm H2O
  • pH > 7,25
  • Có thể bắt đầu nỗ lực hít vào
  • Ý thức phù hợp để bảo vệ đường thở
  • Tiết dịch tối thiểu khi ho mạnh
  • Huyết động ổn định và không leo thang (tăng lên) việc hồi sức hoặc dùng thuốc vận mạch
Quá trình chuyển bệnh nhân từ thở máy sang rút ống nội khí quản có thể là một giai đoạn thách thức. Đánh giá ngừng thuốc an thần (an thần) một cách chính thức nên được thực hiện khi bệnh nhân đã được đưa vào thử nghiệm thở tự nhiên (SBT) và không nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ máy thở (xem thêm: Cai an thần và cai thở máy ). Thời gian SBT tiếp tục khoảng 30 phút và không quá 2 giờ. Trước khi ra quyết định rút ống nội khí quản, cần kiểm tra các yếu tố dự đoán và các thông số sau để bảo đảm đạt ngưỡng. Nhiều bác sĩ lâm sàng sử dụng NIF (Áp lực âm hít vào gắng sức), với NIF < -30 cmH2O gợi ý khả năng cai thở máy thành công; dung tích sống gắng sức (FVC) hoặc Chỉ số thở nhanh nông (RSBI = tần số thở trung bình / thể tích khí lưu thông trung bình ≤ 105 chu kỳ/phút/lít) cho thấy khả năng cai thở máy thành công. Cần cân nhắc tham khảo ý kiến chuyên gia khi quyết định rút ống nội khí quản. Xem thêm: Chiến lược cai an thần - giảm đau, cai thở máy và rút ống nội khí quản ở người lớn công cụ cai thở máy .
Cứ 5 bệnh nhân được rút nội khí quản theo kế hoạch thì có 1 trường hợp cần đặt lại nội khí quản. Tỉ lệ thất bại phụ thuộc đáng kể vào việc đánh giá chính xác các thông số đã được mô tả ở trên. Phần lớn thất bại trong rút ống nội khí quản xảy ra trong vòng 24 giờ đến 72 giờ đầu sau khi rút ống.

NHỮNG ĐIỂM CHÍNH VỀ THÔNG KHÍ CƠ HỌC

  • Mục tiêu cốt lõi của thông khí áp lực dương không xâm lấn và xâm lấn là hỗ trợ thông khí và cung cấp oxy, đồng thời giảm công thở trong khi vẫn đảm bảo sự thoải mái cho bệnh nhân.
  • NPPV được sử dụng tối ưu ở người bệnh tỉnh táo, có khả năng hợp tác và tình trạng hô hấp được kỳ vọng sẽ cải thiện sau 24 đến 48 giờ.
  • Cần xem xét ưu điểm và hạn chế của các chế độ (Mode) thở máy xâm lấn khác nhau khi xác định hình thức hỗ trợ thở máy tối ưu phù hợp với tình trạng lâm sàng của từng bệnh nhân.
  • Tuân thủ nghiêm ngặt các Hướng dẫn bắt đầu thở máy và điều chỉnh dựa trên đánh giá cũng như theo dõi sát bệnh nhân.
  • Cần đánh giá cao tính chất phức tạp của các yếu tố bao gồm áp lực hít vào, tỉ lệ hít vào/thở ra (I:E), FiO2 và PEEP nhằm nhận định lợi ích tiềm năng cũng như tác động bất lợi ở mỗi bệnh nhân.
  • Các yếu tố quan trọng chi phối quá trình oxy hóa là FiO2 và áp lực đường thở trung bình (Pmean), trong khi thông khí phế nang chủ yếu ảnh hưởng đến trao đổi CO2.
  • Trong suốt quá trình thở máy, bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ thông qua hệ thống cảnh báo của máy thở, đo độ bão hòa oxy xung mạch (SpO2) liên tục, đánh giá thực thể cẩn thận, đo Pplat thì hít vào (nếu thích hợp về mặt lâm sàng) và khí máu động mạch (ABG), đồng thời chụp X quang ngực định kỳ nếu cần.
  • Áp lực cao nguyên (Pplat) hít vào tăng cao có liên quan đến tỉ lệ tổn thương phổi do máy thở cao hơn; vì vậy cần duy trì Pplat ở mức dưới 30 cm H2O.
  • Hạ huyết áp xảy ra ngay sau khi bắt đầu thở máy xâm lấn cần được đánh giá nhanh để loại trừ hoặc nhận diện tràn khí màng phổi áp lực, giảm lượng máu tĩnh mạch hồi lưu do áp lực trong lồng ngực, Auto-PEEP hoặc thiếu máu cục bộ cơ tim.

Tài liệu tham khảo

  1. FCCS 2018
  2. Mechanical Ventilation. FCCS 7th Edition. 2021