Ung thư niêm mạc tử cung

Post key: d13bf69a-d261-511e-963d-0f52002fc744
Slug: ung-thu-niem-mac-tu-cung
Excerpt: Ung thư biểu mô nội mạc tử cung: tổng quan, chẩn đoán và điều trị theo FIGO (1988) và tài liệu chuyên môn của Bộ Y tế. CHẨN ĐOÁN - Lâm sàng: ra máu âm đạo bất thường ở phụ nữ sau mãn kinh (hoặc rong kinh/rong huyết tiền mãn kinh); chảy dịch hôi âm đạo; đau hạ vị (thường xuất hiện muộn khi u lan/xâm lấn). Thăm khám có thể ít dấu hiệu; đặt mỏ vịt để loại trừ ra máu từ cổ tử cung; giai đoạn muộn có thể thấy tử cung to, xâm lấn cổ tử cung/âm đạo hoặc dấu hiệu di căn. - Cận lâm sàng: + Siêu âm đầu dò âm đạo đánh giá ban đầu độ dày bất thường nội mạc và mức độ xâm lấn. + MRI đánh giá u tại chỗ, mức xâm nhập và tổn thương nghi ngờ di căn. + Sinh thiết nội mạc tử cung là bắt buộc để xác định ác tính, mô học/típ mô bệnh học và nguồn gốc tổn thương (nội mạc hay cổ tử cung). + Soi buồng tử cung giúp quan sát tổn thương và định hướng sinh thiết đúng vị trí. + Chất chỉ điểm sinh học (CA-125, TAG-72, CA 15-3, LSA…) có thể tăng nhưng thường tăng ở giai đoạn muộn. - Chẩn đoán xác định: dựa trên kết quả sinh thiết nội mạc tử cung. - Phân loại mô học: theo WHO 2003 (các típ: nội mạc dạng tuyến/biến thể, tuyến nhầy, tuyến thanh dịch, tế bào sáng, hỗn hợp… và các típ ít gặp khác). - Chẩn đoán giai đoạn: theo FIGO 1988 (I–IV, trong đó IVB có di căn xa). ĐIỀU TRỊ - Nguyên tắc chung: phẫu thuật là biện pháp ưu tiên hàng đầu; xạ trị là lựa chọn quan trọng thứ hai; hóa trị và điều trị nội tiết áp dụng cho một số trường hợp giai đoạn muộn. - Điều trị cụ thể theo giai đoạn FIGO: + Giai đoạn I: cắt tử cung hoàn toàn kèm phần phụ hai bên và lấy hạch; xạ trị bổ trợ khi có yếu tố tiên lượng xấu; nếu lan xuống ống cổ tử cung/thâm nhiễm thì cân nhắc phẫu thuật Wertheim. + Giai đoạn II: cắt tử cung hoàn toàn kèm phần phụ và lấy hạch; tùy tổn thương cổ tử cung lớn nhỏ để quyết định thứ tự xạ trị trước/sau (thường sau mổ 4–6 tuần rồi xạ áp sát). + Giai đoạn III: phẫu thuật và xạ trị là chính; nếu mổ được thì cắt tử cung và xạ trị; nếu không mổ được có thể xạ tại chỗ (radium) và phối hợp hóa trị/hormon. + Giai đoạn IV: điều trị theo tình trạng muộn/tái phát: xạ trị giảm đau/chống chảy máu/chèn ép; có thể phối hợp điều trị nội tiết/progestatif. THEO DÕI - Lịch theo dõi: 3 tháng/lần trong 2 năm đầu; 6 tháng/lần trong 2 năm tiếp theo; sau đó mỗi năm 1 lần. PHÒNG BỆNH (khuyến cáo phát hiện sớm) - Phụ nữ >40 tuổi: nếu có bất thường trên xét nghiệm tế bào phụ khoa, cân nhắc hút buồng tử cung để làm mô bệnh học. - Ra máu sau mãn kinh: cần siêu âm đánh giá độ dày nội mạc, soi buồng tử cung và lấy bệnh phẩm mô bệnh học (đặc biệt ở người béo phì hoặc có tiền sử dùng Tamoxifen). TÀI LIỆU THAM KHẢO: Quyết định số 315/QĐ-BYT ngày 29/01/2015 của Bộ Y tế.
Recognized tags: chan-doan, dieu-tri, theo-doi, du-phong, bo-y-te

GIỚI THIỆU

Ung thư biểu mô nội mạc tử cung là bệnh lý ác tính nguyên phát khởi phát từ biểu mô nội mạc tử cung. Khối u thường có kiểu biệt hóa dạng tuyến; u có khả năng xâm nhập vào lớp cơ và đồng thời có thể lan tới các vị trí xa.

CHẨN ĐOÁN

Lâm sàng

Triệu chứng cơ năng

  • Ra máu âm đạo bất thường ở phụ nữ đã mãn kinh, hoặc rong kinh/rong huyết ở phụ nữ tiền mãn kinh hoặc còn kinh. Tần suất gặp triệu chứng này khoảng (80%).
  • Chảy dịch hôi âm đạo có thể ghi nhận khoảng 30% số người bệnh. Dịch thường liên quan nhiễm khuẩn và có máu lẫn chất hoại tử, tạo mùi hôi.
  • Đau vùng hạ vị thường xuất hiện muộn, khi khối u đã lan tràn hoặc xâm lấn vào các cấu trúc khác trong hố chậu; triệu chứng này gặp khoảng 20,4%.

Triệu chứng thực thể

  • Khi thăm khám lâm sàng, các dấu hiệu thường nghèo nàn.
  • Cần đặt mỏ vịt để chẩn đoán phân biệt, nhằm loại trừ trường hợp ra máu xuất phát từ cổ tử cung.
  • Nếu người bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn, có thể thấy thân tử cung to, hoặc ghi nhận tình trạng xâm lấn cổ tử cung/âm đạo; đồng thời có thể có các dấu hiệu gợi ý di căn xa.

Cận lâm sàng

  • Siêu âm: siêu âm, đặc biệt siêu âm đầu dò âm đạo, được sử dụng để đánh giá ban đầu cho người bệnh nghi ngờ ung thư nội mạc tử cung. Siêu âm giúp phát hiện chiều dày bất thường của nội mạc tử cung và mức độ xâm lấn của khối u.
  • Chụp buồng tử cung có thuốc cản quang: hiện nay ít được sử dụng.
  • Chụp MRI: cho phép đánh giá u tại chỗ, mức độ xâm nhập, cũng như các tổn thương nghi ngờ di căn.
  • Sinh thiết nội mạc tử cung: là yêu cầu bắt buộc trong chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung. Mục tiêu nhằm xác định tổn thương lành tính hay ác tính, đồng thời đánh giá độ mô học, típ mô bệnh học và xác định ung thư nguyên phát xuất phát từ nội mạc tử cung hay từ cổ tử cung.
  • Soi buồng tử cung: giúp quan sát tổn thương, xác định mức độ lan rộng bề mặt và định hướng vị trí sinh thiết đúng nơi tổn thương để phục vụ chẩn đoán mô bệnh học.
  • Chất chỉ điểm sinh học: các chất như CA-125, TAG-72, CA 15-3, LSA… có thể tăng trong ung thư nội mạc tử cung; tuy nhiên, thường chỉ tăng ở giai đoạn muộn.

Chẩn đoán xác định

  • Dựa vào kết quả chẩn đoán mô bệnh học từ sinh thiết niêm mạc tử cung.

Phân loại thể, mức độ

Phân loại mô học ung thư nội mạc tử cung theo WHO 2003 hiện đang được áp dụng rộng rãi, bao gồm các nhóm sau:
- Ung thư biểu mô tuyến dạng nội mạc tử cung (Endometrioid adenocarcinoma)
  • Biến thể biệt hóa vảy (Variant with squamous differentiation)
  • Biến thể tuyến nhung mao (Villoglandular variant)
  • Biến thể chế tiết (Secretory variant)
  • Biến thể tế bào có lông (Ciliated cell variant)
- Ung thư biểu mô tuyến nhầy (Mucinous adenocarcinoma)
- Ung thư biểu mô tuyến thanh dịch (Serous adenocarcinoma)
- Ung thư biểu mô tuyến tế bào sáng (Clear cell adenocarcinoma)
- Ung thư biểu mô tuyến hỗn hợp (Mixed adenocarcinoma)
- Ung thư biểu mô tế bào vảy (Squamous cell carcinoma)
- Ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp (Transitional cell carcinoma)
- Ung thư biểu mô tế bào nhỏ (Small cell carcinoma)
- Ung thư biểu mô không biệt hóa (Undifferentiated carcinoma)

Chẩn đoán giai đoạn (FIGO 1988)


Chẩn đoán giai đoạn (FIGO 1988)
Giai đoạn Tiêu chuẩn
I U khu trú ở thân tử cung
IA U giới hạn ở nội mạc tử cung
IB U xâm lấn dưới ½ cơ tử cung
IC U xâm lấn trên ½ cơ tử cung
II U xâm lấn tới cổ tử cung nhưng không lan ra khỏi tử cung
IIA Xâm lấn tuyến cổ tử cung
IIB Xâm lấn mô đệm cổ tử cung
III U lan ra ngoài tử cung nhưng còn khu trú trong khung chậu
IIIA U xâm lấn tới thanh mạc và/ hoặc phần phụ và / hoặc tế bào học dịch rửa phúc mạc dương tính
IIIB U lan tới âm đạo
IIIC U lan tới khung chậu và/ hoặc hạch cạnh động mạch chủ
IV U xâm lấn tới niêm mạc bàng quang và/ hoặc niêm mạc đại tràng Sigma hoặc di căn xa
IVA U xâm lấn niêm mạc bàng quang và/ hoặc niêm mạc đại tràng sigma
IVB Di căn xa bao gồm cả hạch ổ bụng và hạch bẹn

ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc chung

  • Trong các phương pháp điều trị ung thư nội mạc, phẫu thuật được xem là biện pháp ưu tiên hàng đầu.
  • Phẫu thuật có thể được thực hiện theo hai phương thức: phẫu thuật mở bụng hoặc phẫu thuật nội soi.
  • Xạ trị là lựa chọn điều trị hiệu quả thứ hai trong điều trị ung thư nội mạc tử cung.
  • Xem xét chỉ định điều trị phối hợp gồm xạ trị, hóa trị và nội tiết cho các trường hợp giai đoạn muộn.

Điều trị cụ thể

Chỉ định điều trị được xây dựng dựa trên phân giai đoạn theo FIGO:
  • Giai đoạn I: cắt tử cung hoàn toàn, kèm theo cắt hai phần phụ và lấy hạch chậu, hạch cạnh động mạch chủ. Chỉ định tia xạ bổ trợ khi có các yếu tố tiên lượng xấu (độ mô học 2 hoặc 3, hoặc có xâm lấn trên ½ chiều sâu lớp cơ). Nếu ung thư nội mạc tử cung đã lan xuống ống cổ tử cung và thâm nhiễm thì bắt buộc áp dụng phẫu thuật Wertheim.
  • Giai đoạn II: cắt tử cung hoàn toàn, lấy hai phần phụ và lấy hạch. Sau 4-6 tuần tiến hành tia xạ hậu phẫu toàn khung chậu, sau đó xạ áp sát. Trường hợp tổn thương tại cổ tử cung lớn thì thực hiện tia xạ trước, sau 4 – 6 tuần mới tiến hành phẫu thuật.
  • Giai đoạn III: phẫu thuật và xạ trị vẫn là phương pháp điều trị chính. Nếu thực hiện được phẫu thuật thì tiến hành cắt tử cung hoàn toàn và xạ trị; nếu không mổ được có thể xạ bằng kim radium đặt tại chỗ và phối hợp hóa trị liệu hormon.
  • Giai đoạn IV: người bệnh ở giai đoạn muộn hoặc tái phát tại các vị trí xa có thể được điều trị tia xạ nhằm giảm đau, chống chảy máu và chèn ép. Điều trị nội tiết và điều trị bằng progestatif.

THEO DÕI

  • Theo dõi định kỳ 3 tháng/lần trong 2 năm đầu, 6 tháng/lần trong 2 năm tiếp theo và sau đó mỗi năm 1 lần.

PHÒNG BỆNH

  • Đối với phụ nữ >40 tuổi: nếu xét nghiệm tế bào phụ khoa có các đám tuyến nội mạc thì cần tiến hành hút buồng tử cung để làm xét nghiệm mô bệnh học. Riêng đối với người ra máu sau mãn kinh cần thực hiện siêu âm để đánh giá độ dầy nội mạc, soi buồng tử cung và lấy bệnh phẩm làm xét nghiệm mô bệnh học, đặc biệt ở những người béo phì hoặc có tiền sử điều trị Tamoxifen.

Tài liệu tham khảo

  1. Quyết định số 315/QĐ-BYT ngày 29/01/2015 của Bộ Y tế ban hành tài liệu chuyên môn: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh sản phụ khoa.