GIỚI THIỆU
Ung thư biểu mô nội mạc tử cung là bệnh lý ác tính nguyên phát khởi phát từ biểu mô nội mạc tử cung. Khối u thường có kiểu biệt hóa dạng tuyến; u có khả năng xâm nhập vào lớp cơ và đồng thời có thể lan tới các vị trí xa.
CHẨN ĐOÁN
Lâm sàng
Triệu chứng cơ năng
- Ra máu âm đạo bất thường ở phụ nữ đã mãn kinh, hoặc rong kinh/rong huyết ở phụ nữ tiền mãn kinh hoặc còn kinh. Tần suất gặp triệu chứng này khoảng (80%).
- Chảy dịch hôi âm đạo có thể ghi nhận khoảng 30% số người bệnh. Dịch thường liên quan nhiễm khuẩn và có máu lẫn chất hoại tử, tạo mùi hôi.
- Đau vùng hạ vị thường xuất hiện muộn, khi khối u đã lan tràn hoặc xâm lấn vào các cấu trúc khác trong hố chậu; triệu chứng này gặp khoảng 20,4%.
Triệu chứng thực thể
- Khi thăm khám lâm sàng, các dấu hiệu thường nghèo nàn.
- Cần đặt mỏ vịt để chẩn đoán phân biệt, nhằm loại trừ trường hợp ra máu xuất phát từ cổ tử cung.
- Nếu người bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn, có thể thấy thân tử cung to, hoặc ghi nhận tình trạng xâm lấn cổ tử cung/âm đạo; đồng thời có thể có các dấu hiệu gợi ý di căn xa.
Cận lâm sàng
- Siêu âm: siêu âm, đặc biệt siêu âm đầu dò âm đạo, được sử dụng để đánh giá ban đầu cho người bệnh nghi ngờ ung thư nội mạc tử cung. Siêu âm giúp phát hiện chiều dày bất thường của nội mạc tử cung và mức độ xâm lấn của khối u.
- Chụp buồng tử cung có thuốc cản quang: hiện nay ít được sử dụng.
- Chụp MRI: cho phép đánh giá u tại chỗ, mức độ xâm nhập, cũng như các tổn thương nghi ngờ di căn.
- Sinh thiết nội mạc tử cung: là yêu cầu bắt buộc trong chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung. Mục tiêu nhằm xác định tổn thương lành tính hay ác tính, đồng thời đánh giá độ mô học, típ mô bệnh học và xác định ung thư nguyên phát xuất phát từ nội mạc tử cung hay từ cổ tử cung.
- Soi buồng tử cung: giúp quan sát tổn thương, xác định mức độ lan rộng bề mặt và định hướng vị trí sinh thiết đúng nơi tổn thương để phục vụ chẩn đoán mô bệnh học.
- Chất chỉ điểm sinh học: các chất như CA-125, TAG-72, CA 15-3, LSA… có thể tăng trong ung thư nội mạc tử cung; tuy nhiên, thường chỉ tăng ở giai đoạn muộn.
Chẩn đoán xác định
- Dựa vào kết quả chẩn đoán mô bệnh học từ sinh thiết niêm mạc tử cung.
Phân loại thể, mức độ
Phân loại mô học ung thư nội mạc tử cung theo WHO 2003 hiện đang được áp dụng rộng rãi, bao gồm các nhóm sau:
- Ung thư biểu mô tuyến dạng nội mạc tử cung (Endometrioid adenocarcinoma)
- Biến thể biệt hóa vảy (Variant with squamous differentiation)
- Biến thể tuyến nhung mao (Villoglandular variant)
- Biến thể chế tiết (Secretory variant)
- Biến thể tế bào có lông (Ciliated cell variant)
- Ung thư biểu mô tuyến nhầy (Mucinous adenocarcinoma)
- Ung thư biểu mô tuyến thanh dịch (Serous adenocarcinoma)
- Ung thư biểu mô tuyến tế bào sáng (Clear cell adenocarcinoma)
- Ung thư biểu mô tuyến hỗn hợp (Mixed adenocarcinoma)
- Ung thư biểu mô tế bào vảy (Squamous cell carcinoma)
- Ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp (Transitional cell carcinoma)
- Ung thư biểu mô tế bào nhỏ (Small cell carcinoma)
- Ung thư biểu mô không biệt hóa (Undifferentiated carcinoma)
Chẩn đoán giai đoạn (FIGO 1988)
| Chẩn đoán giai đoạn (FIGO 1988) | |
|---|---|
| Giai đoạn | Tiêu chuẩn |
| I | U khu trú ở thân tử cung |
| IA | U giới hạn ở nội mạc tử cung |
| IB | U xâm lấn dưới ½ cơ tử cung |
| IC | U xâm lấn trên ½ cơ tử cung |
| II | U xâm lấn tới cổ tử cung nhưng không lan ra khỏi tử cung |
| IIA | Xâm lấn tuyến cổ tử cung |
| IIB | Xâm lấn mô đệm cổ tử cung |
| III | U lan ra ngoài tử cung nhưng còn khu trú trong khung chậu |
| IIIA | U xâm lấn tới thanh mạc và/ hoặc phần phụ và / hoặc tế bào học dịch rửa phúc mạc dương tính |
| IIIB | U lan tới âm đạo |
| IIIC | U lan tới khung chậu và/ hoặc hạch cạnh động mạch chủ |
| IV | U xâm lấn tới niêm mạc bàng quang và/ hoặc niêm mạc đại tràng Sigma hoặc di căn xa |
| IVA | U xâm lấn niêm mạc bàng quang và/ hoặc niêm mạc đại tràng sigma |
| IVB | Di căn xa bao gồm cả hạch ổ bụng và hạch bẹn |
ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc chung
- Trong các phương pháp điều trị ung thư nội mạc, phẫu thuật được xem là biện pháp ưu tiên hàng đầu.
- Phẫu thuật có thể được thực hiện theo hai phương thức: phẫu thuật mở bụng hoặc phẫu thuật nội soi.
- Xạ trị là lựa chọn điều trị hiệu quả thứ hai trong điều trị ung thư nội mạc tử cung.
- Xem xét chỉ định điều trị phối hợp gồm xạ trị, hóa trị và nội tiết cho các trường hợp giai đoạn muộn.
Điều trị cụ thể
Chỉ định điều trị được xây dựng dựa trên phân giai đoạn theo FIGO:
- Giai đoạn I: cắt tử cung hoàn toàn, kèm theo cắt hai phần phụ và lấy hạch chậu, hạch cạnh động mạch chủ. Chỉ định tia xạ bổ trợ khi có các yếu tố tiên lượng xấu (độ mô học 2 hoặc 3, hoặc có xâm lấn trên ½ chiều sâu lớp cơ). Nếu ung thư nội mạc tử cung đã lan xuống ống cổ tử cung và thâm nhiễm thì bắt buộc áp dụng phẫu thuật Wertheim.
- Giai đoạn II: cắt tử cung hoàn toàn, lấy hai phần phụ và lấy hạch. Sau 4-6 tuần tiến hành tia xạ hậu phẫu toàn khung chậu, sau đó xạ áp sát. Trường hợp tổn thương tại cổ tử cung lớn thì thực hiện tia xạ trước, sau 4 – 6 tuần mới tiến hành phẫu thuật.
- Giai đoạn III: phẫu thuật và xạ trị vẫn là phương pháp điều trị chính. Nếu thực hiện được phẫu thuật thì tiến hành cắt tử cung hoàn toàn và xạ trị; nếu không mổ được có thể xạ bằng kim radium đặt tại chỗ và phối hợp hóa trị liệu hormon.
- Giai đoạn IV: người bệnh ở giai đoạn muộn hoặc tái phát tại các vị trí xa có thể được điều trị tia xạ nhằm giảm đau, chống chảy máu và chèn ép. Điều trị nội tiết và điều trị bằng progestatif.
THEO DÕI
- Theo dõi định kỳ 3 tháng/lần trong 2 năm đầu, 6 tháng/lần trong 2 năm tiếp theo và sau đó mỗi năm 1 lần.
PHÒNG BỆNH
- Đối với phụ nữ >40 tuổi: nếu xét nghiệm tế bào phụ khoa có các đám tuyến nội mạc thì cần tiến hành hút buồng tử cung để làm xét nghiệm mô bệnh học. Riêng đối với người ra máu sau mãn kinh cần thực hiện siêu âm để đánh giá độ dầy nội mạc, soi buồng tử cung và lấy bệnh phẩm làm xét nghiệm mô bệnh học, đặc biệt ở những người béo phì hoặc có tiền sử điều trị Tamoxifen.
Tài liệu tham khảo
- Quyết định số 315/QĐ-BYT ngày 29/01/2015 của Bộ Y tế ban hành tài liệu chuyên môn: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh sản phụ khoa.