Ngộ độc dứa

Post key: d143cfc5-b811-5d39-9432-300df6d60562
Slug: ngo-doc-dua
Excerpt: Ngộ độc/dị ứng do dứa chủ yếu liên quan đến bromelain (tổ hợp enzyme tiêu protein và các enzyme kháng viêm) trong thân và vỏ quả. Vì là protein nên có thể gây phản ứng dị ứng từ nhẹ (ngứa miệng, sẩn ngứa, ban da) đến nặng (co thắt phế quản, phù nề thanh môn) và nguy kịch (sốc phản vệ). Chẩn đoán dựa vào lâm sàng; xét nghiệm chỉ dùng khi nặng/sốc/suy hô hấp. Phân loại theo mức độ: nhẹ (da/niêm), nặng (khó thở do phế quản/thanh môn), rất nặng (sốc phản vệ). Điều trị ưu tiên đảm bảo hô hấp–tuần hoàn: xử trí khó thở bằng oxy, khí dung giãn phế quản/corticoid; nếu sốc phản vệ xử trí theo phác đồ Bộ Y tế với adrenalin tiêm bắp (lặp lại) hoặc truyền tĩnh mạch khi cần. Kháng histamine (diphenhydramin) và corticoid (methylprednisolon) hỗ trợ; cân nhắc hạn chế hấp thu bằng gây nôn/than hoạt tính khi phù hợp và không có chống chỉ định (rối loạn ý thức, suy hô hấp). Dự phòng: tránh dứa chưa chế biến ở người có tiền sử; trẻ ăn thử lượng ít và theo dõi; nghi ngờ sốc phản vệ cần tiêm adrenalin ngay.
Recognized tags: chan-doan, dieu-tri, cap-cuu, khan-cap, bo-y-te, du-phong

GIỚI THIỆU

Trong thân và vỏ quả dứa có chứa bromelain, là một tổ hợp gồm nhiều enzyme tiêu protein (proteolytic): ananase, bromelin, infamen, traumanase; đồng thời có các enzyme mang tính kháng viêm như peroxydase, photphatase, enzym ức chế protease và các calci hữu cơ.
  • Trên thực tế, các men này chiết xuất từ dứa đã được ứng dụng trong các công nghệ làm mềm thịt và đang được nghiên cứu trong một số thuốc điều trị viêm khớp, ung thư, viêm đại tràng… tuy nhiên hiện chưa được cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ phê duyệt.
  • Do bromelain có bản chất là protein, có thể gây phản ứng dị ứng ở một số người có cơ địa dị ứng thông qua IgE; mức độ có thể từ nhẹ đến nặng, thậm chí gây sốc phản vệ và nguy hiểm tính mạng nếu không được nhận biết và xử trí kịp thời.
  • Bromelain không bị mất đi khi quả chín nhưng bị biến tính và bất hoạt ở nhiệt độ trên 65 o C. Vì vậy, người có dị ứng dứa khi ăn quả tươi có thể vẫn biểu hiện triệu chứng, trong khi sau khi dứa được chế biến và nấu chín thì có thể ăn được.
NGUYÊN NHÂN
  • Dị ứng với bromelain trong dứa thường gặp ở những người có cơ địa dị ứng hoặc nhạy cảm với thức ăn từ trước. Ở người không có cơ địa dị ứng, có thể xuất hiện triệu chứng nhưng thường rất nhẹ và thoáng qua, ví dụ cảm giác ngứa tại chỗ.
  • Các trường hợp sốc phản vệ thường xảy ra ở người đã biết dị ứng dứa trước đó nhưng vẫn tiếp tục ăn dứa do cố ý hoặc ăn nhầm/lẫn trong thức ăn mà không biết.

CHẨN ĐOÁN

Lâm sàng

Ngay sau khi ăn dứa, bệnh nhân có thể cảm thấy bất thường trong miệng; tiếp theo là ngứa miệng. Sẩn ngứa có thể xuất hiện quanh miệng hoặc lan ra toàn thân và tiến triển rất nhanh.
  • Da: xung huyết đỏ hoặc nổi ban sẩn dị ứng dạng nốt hoặc dải/dảng mảng; có thể tái lạnh nếu tiến triển đến tình trạng sốc phản vệ.
  • Niêm mạc: ngứa, phù nề. Có thể gặp phù nề niêm mạc miệng, kết mạc mắt, phù mi mắt; đôi khi biểu hiện phù mặt kiểu phù Quincke.
  • Tiêu hóa: có thể đau quặn bụng kiểu co thắt, ỉa chảy có thể gặp.
  • Phổi: ở các trường hợp nặng có thể gây co thắt phế quản; khi nghe phổi có rale rít, rale ngáy; SpO2 tụt.
  • Tim mạch: mạch nhanh, huyết áp tụt trong trường hợp sốc phản vệ. Bệnh nhân có thể cảm giác khó chịu, mệt mỏi, hoảng sợ trước đó; có thể vật vã hoặc hôn mê nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời.

Xét nghiệm

  • Nói chung, chẩn đoán dị ứng dứa là chẩn đoán dựa trên lâm sàng.
  • Các xét nghiệm chỉ thực hiện trong các trường hợp nặng có suy hô hấp hoặc sốc phản vệ, nhằm theo dõi và điều trị, gồm: Xquang phổi, khí máu động mạch, điện giải, glucose máu, ure, creatinin, AST, ALT.

Chẩn đoán xác định

  • Chẩn đoán dị ứng dứa: khi có bất kể triệu chứng nào kể trên.
  • Chẩn đoán sốc phản vệ do bromelain trong dứa: khi có biểu hiện dị ứng kèm theo tụt huyết áp dưới 90/60 mmHg.

Phân loại mức độ

  1. Mức độ nhẹ: khi dị ứng biểu hiện đơn thuần trên da và/hoặc niêm mạc.
  2. Mức độ nặng: khi bệnh nhân có co thắt khí phế quản, phù nề thanh môn gây khó thở.
  3. Mức độ rất nặng: khi có sốc phản vệ.

Chẩn đoán phân biệt

  • Cần phân biệt với dị ứng do một loại thức ăn khác hoặc do thuốc khác nếu bệnh nhân ăn nhiều loại thức ăn hoặc đang dùng thuốc điều trị.
  • Phân biệt với các bệnh có ban đỏ trên da: viêm da cơ địa, viêm da tiếp xúc, nấm da, bệnh tự miễn.
  • Phân biệt các bệnh có co thắt khí phế quản: cơn hen phế quản, đợt cấp COP D, dị vật đường thở.
  • Phân biệt các bệnh lý gây tụt huyết áp: suy tim cấp, phù phổi, viêm cơ tim…

ĐIỀU TRỊ

Đảm bảo hô hấp tuần hoàn

Nếu bệnh nhân có khó thở

  • Cho bệnh nhân nằm đầu cao.
  • Thở oxy kính mũi hoặc mask có túi nếu khó thở nhiều.
  • Khí dung thuốc giãn phế quản, corticoid: ví dụ salbutamol (Ventolin), pulmicort, budesonide (Pulmicort)… khi có co thắt phế quản.
  • Truyền thuốc giãn phế quản nếu bệnh nhân không đáp ứng với giãn phế quản đường khí dung.
  • Nếu suy hô hấp do phù nề thanh môn nặng hoặc co thắt phế quản nặng không đáp ứng thuốc → đặt ống nội khí quản, thông khí nhân tạo.

Nếu bệnh nhân có sốc phản vệ

  • Xử trí theo phác đồ sốc phản vệ của Bộ Y tế: adrenalin tiêm bắp 0,3-0,5 mg/lần, lặp lại sau 5- 15 phút. Nếu không đáp ứng có thể dùng đường truyền tĩnh mạch liên tục với liều 2-10 mcg/phút.

Thuốc

  1. Diphenhydramin (Dimedrol): 10 mg/lần tiêm bắp, tối đa 50 -80 mg/24 giờ.
  2. Corticoid: methylprednisolon nếu kháng histamine không hiệu quả: 1- 2 mg/kg tiêm tĩnh mạch, có thể đến 125 mg/lần. Lặp lại khi cần thiết.

Các biện pháp hạn chế hấp thu

Gây nôn

  • Nếu bệnh nhân vừa ăn xong có triệu chứng dị ứng; đặc biệt ở những người đã có tiền sử dị ứng dứa, có thể gây nôn bằng siro Ipeca.
  • Liều dùng: Người lớn 15-30 ml; trẻ em 1-12 tuổi 5ml; trên 12 tuổi dùng liều như người lớn.
  • Chống chỉ định nếu bệnh nhân rối loạn ý thức hoặc suy hô hấp vì làm tăng nguy cơ sặc phổi.

Than hoạt tính

  • Nếu bệnh nhân đến sớm trước 6 giờ có thể cho than hoạt với liều 1 g/kg cân nặng; uống kèm sorbitol với liều gấp đôi liều than hoạt.
  • Chống chỉ định nếu bệnh nhân rối loạn ý thức, suy hô hấp hoặc trẻ nhũ nhi do nguy cơ viêm phổi do sặc than hoạt.

Các biện pháp tăng cường đào thải

Hiện chưa có nghiên cứu về than hoạt đa liều cũng như các biện pháp lọc máu trong điều trị dị ứng dứa; do đó, nhìn chung các biện pháp này không được khuyến cáo.

TIẾN TRIỂN, BIẾN CHỨNG VÀ DỰ PHÒNG

Tiến triển và biến chứng

  • Dị ứng do dứa thường khởi phát nhanh ngay sau khi ăn, vì vậy nhìn chung dễ nhận biết.
  • Đa số trường hợp có biểu hiện mức độ nhẹ, chủ yếu ở da và niêm mạc; triệu chứng thường tự lui nhanh sau khi sử dụng kháng histamine và corticoid.
  • Các trường hợp nặng có thể xuất hiện suy hô hấp hoặc sốc phản vệ; nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời có thể dẫn đến tử vong.

Dự phòng

  • Trẻ em khi ăn dứa lần đầu nên dùng với lượng ít và được bố mẹ theo dõi sát các dấu hiệu dị ứng ở trên.
  • Người có tiền sử dị ứng dứa không nên ăn dứa chưa qua chế biến. Trường hợp nấu chín kỹ bromelain bị biến tính có thể ăn được mà không gây triệu chứng.
  • Khi có biểu hiện dị ứng nhanh chóng đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất.
  • Nếu nghi ngờ sốc phản vệ, cần tiêm adrenalin ngay lập tức theo hướng dẫn của bộ y tế.

Tài liệu tham khảo

  1. Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí ngộ độc. Bộ Y Tế. 31/08/2015