GIỚI THIỆU
Sốt ở bệnh nhân ICU thường là dấu hiệu sớm gợi ý có thể liên quan nhiễm trùng và do đó cần được đánh giá chẩn đoán một cách toàn diện.
KHUYẾN CÁO
Thuốc hạ sốt
Đối với người bệnh hồi sức tích cực đang có sốt, khuyến nghị tránh sử dụng thuốc hạ sốt một cách thường quy chỉ với mục tiêu làm giảm nhiệt độ.
W
M
Đối với người bệnh hồi sức tích cực vừa bị sốt vừa coi trọng mức độ thoải mái thông qua việc giảm nhiệt độ, khuyến nghị sử dụng thuốc hạ sốt thay cho các biện pháp không dùng thuốc nhằm mục tiêu hạ thân nhiệt.
W
L
Cấy máu
Đối với người bệnh ICU đang sốt mà không xác định được nguồn lây nhiễm rõ ràng và có catheter tĩnh mạch trung tâm, khuyến nghị lấy mẫu cấy máu đồng thời từ catheter tĩnh mạch trung tâm và từ vị trí ngoại vi để hỗ trợ phân tích chênh lệch thời gian phát hiện dương tính.
BP
N
Chênh lệch thời gian phát hiện dương tính (TTP) có thể được dùng để hỗ trợ chẩn đoán vãng khuẩn huyết liên quan catheter. Nếu cả hai mẫu cấy máu (lấy qua catheter và ngoại vi) đều dương tính với cùng một vi sinh vật, và mẫu lấy qua catheter dương tính sớm hơn ≥ 2 giờ so với mẫu ngoại vi, thì vãng khuẩn huyết liên quan catheter được ủng hộ.
Ở người bệnh sốt trong ICU khi chỉ định cấy máu qua catheter tĩnh mạch trung tâm, khuyến nghị thu thập ít nhất hai nòng mẫu.
BP
N
Đối với người bệnh hồi sức tích cực có cơn sốt mới không rõ nguồn gốc, nếu thực hiện xét nghiệm phân tử nhanh trên máu thì chỉ sử dụng các xét nghiệm này đồng thời với cấy máu.
W
VL
Khi tiến hành cấy máu ở người bệnh ICU người lớn, khuyến nghị thu thập tuần tự ít nhất hai bộ cấy máu (lý tưởng tổng cộng 60 ml), từ các vị trí giải phẫu khác nhau và không có khoảng thời gian (có chủ đích) giữa các lần lấy.
BP
N
Mỗi vị trí thu thập 2 chai hiếu khí và 1 chai kỵ khí với 10ml mỗi chai; tối thiểu từ 2 vị trí (lý tưởng 60 ml cho 2 vị trí).
Cấy nước tiểu
Đối với người bệnh ICU đang sốt có tiểu mủ và nghi ngờ nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI), khuyến nghị thay ống thông tiểu và lấy mẫu cấy nước tiểu từ ống thông mới được đặt.
BP
N
Xét nghiệm dấu ấn sinh học nhanh
Nếu xác suất nhiễm vi khuẩn ở người bệnh hồi sức tích cực có cơn sốt mới và không có tiêu điểm nhiễm trùng rõ ràng được đánh giá là thấp đến trung bình, khuyến nghị đo PCT (Procalcitonin) bên cạnh đánh giá lâm sàng tại giường so với chỉ dựa vào đánh giá lâm sàng tại giường.
W
VL
Nếu xác suất nhiễm vi khuẩn ở người bệnh hồi sức tích cực có cơn sốt mới và không có tiêu điểm nhiễm trùng rõ ràng được đánh giá là cao, khuyến nghị không đo PCT (Procalcitonin) với mục tiêu loại trừ nhiễm khuẩn.
W
VL
Nếu xác suất nhiễm vi khuẩn ở người bệnh hồi sức tích cực có cơn sốt mới và không có tiêu điểm nhiễm trùng rõ ràng được đánh giá là thấp đến trung bình, khuyến nghị đo CRP bên cạnh đánh giá lâm sàng tại giường so với chỉ dựa vào đánh giá lâm sàng tại giường.
W
VL
Nếu xác suất nhiễm vi khuẩn ở người bệnh hồi sức tích cực có cơn sốt mới và không có tiêu điểm nhiễm trùng rõ ràng được đánh giá là cao, khuyến nghị không đo CRP với mục tiêu loại trừ nhiễm khuẩn.
W
VL
Nếu xác suất nhiễm vi khuẩn ở người bệnh hồi sức tích cực có cơn sốt mới và không có tiêu điểm nhiễm trùng rõ ràng được đánh giá là thấp đến trung bình, khuyến nghị đo PCT hoặc CRP huyết thanh để loại trừ nhiễm khuẩn.
W
VL
Xét nghiệm mầm bệnh vi rút
Đối với người bệnh hồi sức tích cực có cơn sốt mới và nghi ngờ viêm phổi hoặc có các triệu chứng nhiễm trùng đường hô hấp trên mới (ví dụ: ho), khuyến nghị xét nghiệm mầm bệnh vi rút bằng bảng NAAT (test khuếch đại axit nucleic).
W
VL
Hội thảo nhận thấy không đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo về việc thực hiện xét nghiệm máu thường quy đối với mầm bệnh virus (ví dụ: herpesvirus, adenovirus) ở những người bệnh có hệ miễn dịch bình thường trong ICU.
N
N
Đối với người bệnh hồi sức tích cực có cơn sốt mới, khuyến nghị xét nghiệm SARS-CoV-2 bằng PCR (polymerase chain reaction) dựa trên mức độ lây truyền trong cộng đồng.
BP
N
Thăm dò hình ảnh học
Đối với người bệnh phát triển sốt trong thời gian nằm ICU, khuyến nghị thực hiện chụp X-quang ngực.
BP
N
Đối với người bệnh đã trải qua phẫu thuật ngực, bụng hoặc vùng chậu gần đây, khuyến nghị thực hiện CT (phối hợp với chăm sóc phẫu thuật) như một phần của quá trình kiểm tra sốt nếu nguyên nhân ban đầu không được xác định rõ ràng.
BP
N
Đối với người bệnh hồi sức tích cực bị sốt mà các xét nghiệm chẩn đoán khác không xác định được nguyên nhân, khuyến nghị thực hiện PET (positron emission tomography) hoặc CT (computed tomography)
18F-fluorodeoxyglucose (
18F-FDG) nếu nguy cơ của việc vận chuyển bệnh nhân được coi là có thể chấp nhận được.
W
VL
Hội đồng nhận thấy không đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo liên quan đến việc sử dụng phương pháp quét WBC (bạch cầu) cho người bệnh bị sốt mà không xác định được nguyên nhân.
N
N
Đối với người bệnh hồi sức tích cực có sốt và không có dấu hiệu hoặc triệu chứng ở bụng hoặc bất thường về chức năng gan và không có phẫu thuật bụng gần đây, khuyến nghị không sử dụng siêu âm bụng tiêu chuẩn hoặc POCUS (point-of-care ultrasound) một cách thường quy như thăm dò ban đầu.
BP
N
Đối với người bệnh vừa mới phẫu thuật vùng bụng gần đây hoặc bất kỳ người bệnh nào có các triệu chứng ở bụng hoặc nghi ngờ có nguồn lây nhiễm từ ổ bụng (ví dụ: khám thực thể/POCUS bất thường, tăng transaminase, hoặc phosphatase kiềm và/hoặc bilirubin), khuyến nghị thực hiện siêu âm chẩn đoán ổ bụng tại giường tiêu chuẩn.
BP
N
transaminase (GOT, GPT), phosphatase kiềm (alkaline phosphatase)
Đối với người bệnh hồi sức tích cực có sốt và X-quang ngực bất thường, khuyến nghị thực hiện siêu âm lồng ngực tại giường khi có đủ chuyên môn để xác định tràn dịch màng phổi và bệnh lý nhu mô hoặc kẽ phổi một cách đáng tin cậy.
W
L
Hội đồng nhận thấy không đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo liên quan đến việc sử dụng siêu âm lồng ngực tại giường cho người bệnh bị sốt mà không có bất thường trên X-quang ngực.
N
N
Thân nhiệt
Ưu tiên sử dụng các phương pháp theo dõi nhiệt độ trung tâm, bao gồm cảm biến nhiệt gắn với catheter động mạch phổi, ống thông bàng quang hoặc cảm biến nhiệt tại bóng chèn thực quản, khi các thiết bị này được đặt hoặc khi đo nhiệt độ chính xác đặc biệt quan trọng cho chẩn đoán và quản lý. Đối với người bệnh không đặt các thiết bị nêu trên, khuyến nghị sử dụng nhiệt độ ở miệng hoặc trực tràng thay vì các phương pháp đo nhiệt độ khác kém tin cậy hơn (chẳng hạn như nhiệt độ ở nách hoặc màng nhĩ, nhiệt kế động mạch thái dương không xâm lấn hoặc nhiệt kế dạng chấm hóa chất).
W
VL
HƯỚNG DẪN
Khuyến cáo và mức độ bằng chứng
| Mức độ khuyến cáo | |
|---|---|
| Ký hiệu | Mô tả |
| S (Strong) | Mạnh |
| W (Weak) | Yếu |
| BP (Best Practice) | Thực hành tốt |
| N (No recommendation) | Không khuyến cáo |
| Chất lượng bằng chứng | |
| Ký hiệu | Mô tả |
| H (High) | Cao |
| M (Moderate) | Trung bình |
| L (Low) | Thấp |
| VL (Very Low) | Rất thấp |
| N (No evidence) | Không ghi nhận bằng chứng |
Tài liệu tham khảo
- SCCM and IDSA Guidelines for Evaluating New Fever in Adult Patients in the ICU. 2023