Bệnh ghẻ

Post key: d6c8db5d-5ca9-52a0-aec6-d869455c0c32
Slug: benh-ghe
Excerpt: Ghẻ là bệnh da do ký sinh trùng Sarcoptes scabiei gây ra, lây chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp và qua chăn màn, quần áo. Chẩn đoán dựa vào thời gian ủ bệnh, thương tổn điển hình (mụn nước/ sẩn ở các vùng da mỏng như kẽ ngón tay, cổ tay trước, cẳng tay, quanh thắt lưng–rốn–kẽ mông, cơ quan sinh dục; có thể có đường hầm ghẻ) và ngứa nhiều về đêm; soi tìm ký sinh trùng tại tổn thương để xác định. Điều trị: điều trị đồng thời cho tất cả người trong gia đình/nhà trẻ/tập thể và xử lý quần áo–chăn màn–đồ dùng đúng cách. Thuốc bôi tại chỗ có thể dùng gamma benzen 1%, permethrin 5%, benzoat benzyl 25%, DEP; mỡ lưu huỳnh 5–10% (đặc biệt cho trẻ, phụ nữ có thai/cho con bú), crotamiton 10%…; hướng dẫn cách bôi sau tắm và lưu ý xử trí ghẻ bội nhiễm, chàm hóa, ghẻ Na Uy. Thuốc toàn thân: kháng histamin để giảm ngứa và ivermectin liều 200 mcg/kg liều duy nhất trong ghẻ kháng trị/ghẻ Na Uy/người nhiễm HIV (chống chỉ định trẻ <5 tuổi, phụ nữ có thai). Dự phòng bằng vệ sinh cá nhân, điều trị sớm và tránh dùng chung đồ dùng, hạn chế tiếp xúc khi chưa điều trị.
Recognized tags: chan-doan, dieu-tri, du-phong, bo-y-te

GIỚI THIỆU

  • Bệnh ghẻ là một bệnh lý da khá phổ biến, thường được ghi nhận tại các khu dân cư đông đúc, điều kiện nhà ở chật hẹp và tình trạng thiếu vệ sinh, thiếu nước sinh hoạt.
  • Bệnh có khả năng lây truyền thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc lây qua quần áo, chăn màn.
  • Bệnh có thể dẫn đến các biến chứng nhiễm trùng, chàm hoá, viêm cầu thận cấp...

NGUYÊN NHÂN

  • Tác nhân gây ghẻ là ký sinh trùng ghẻ có tên khoa học Sarcoptes scabiei hominis. Ký sinh trùng có hình bầu dục, có 08 chân; lưng mang gai xiên về phía sau và đầu có vòi hút thức ăn đồng thời để đào hầm.
  • Mỗi ngày ghẻ cái đẻ 1-5 trứng; sau 3-7 ngày, trứng nở thành ấu trùng, ấu trùng lột xác nhiều lần để trở thành ghẻ trưởng thành.

CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán xác định

Lâm sàng

  • Thời gian ủ bệnh trung bình từ 2-3 ngày đến 2-6 tuần.
  • Thương tổn cơ bản:
    • Mụn nước trên nền da lành, phân bố rải rác, riêng rẽ; thường gặp ở các vùng da mỏng như kẽ ngón tay, mặt trước cổ tay, cẳng tay, vùng vú, quanh thắt lưng, rốn, kẽ mông, mặt trong đùi và cơ quan sinh dục. Ở trẻ sơ sinh, mụn nước hay thấy ở lòng bàn tay, bàn chân.
    • Đường hầm ghẻ (còn gọi là “luống ghẻ”) dài 3-5mm.
    • Săng ghẻ thường xuất hiện ở vùng sinh dục và dễ bị nhầm với săng giang mai.
    • Sẩn cục hoặc sẩn huyết thanh thường gặp ở nách, bẹn, bìu.
    • Có thể thấy vết xước, vảy da, đỏ da, dát thâm; trường hợp nặng có thể có bội nhiễm, chàm hoá, mụn mủ.
    • Ghẻ Na Uy là một thể đặc biệt, thường gặp ở người bị suy giảm miễn dịch. Thương tổn biểu hiện các lớp vảy chồng lên nhau và lan toả toàn thân; có thể phát hiện hàng nghìn cái ghẻ trong các lớp vảy.

Triệu chứng cơ năng

  • Ngứa nhiều, đặc biệt rõ về đêm.

Cận lâm sàng

  • Soi tìm ký sinh trùng tại tổn thương.

Chẩn đoán phân biệt

  • Tổ đỉa: thương tổn là các mụn nước nhỏ ở vùng rìa các ngón tay hoặc bàn tay, bàn chân; có ngứa và tiến triển dai dẳng.
  • Sẩn ngứa: thương tổn là sẩn huyết thanh rải rác khắp cơ thể, rất ngứa.
  • Viêm da cơ địa: thương tổn dạng sẩn mụn nước tập trung thành từng đám, chủ yếu ở các chi dưới; rất ngứa và tiến triển dai dẳng.
  • Nấm da: biểu hiện bằng mảng da đỏ, kèm các mụn nước và vảy da ở rìa tổn thương; bờ tổn thương hình vòng cung, có xu hướng lành ở giữa. Ngứa nhiều; xét nghiệm tìm thấy sợi nấm.
  • Săng giang mai: thương tổn là một vết trợt nông, nền cứng; không ngứa, không đau; thường gặp ở vùng hậu môn sinh dục. Có kèm hạch bẹn to, thường có hạch chúa. Xét nghiệm trực tiếp soi tươi tìm thấy xoắn khuẩn giang mai tại thương tổn và hạch vùng; xét nghiệm huyết thanh giang mai dương tính.

ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc chung

  • Điều trị cho tất cả các thành viên trong gia đình, tập thể, nhà trẻ... nếu phát hiện có mắc ghẻ.
  • Nên tiến hành tầm soát các bệnh lây qua đường tình dục đối với các người bệnh trên 18 tuổi.
  • Quần áo, chăn màn đệm, vỏ gối, đồ dùng... cần được giặt sạch, phơi khô kỹ.

Điều trị cụ thể

Bôi tại chỗ

  • Gamma benzen 1%
  • Permethrin 5%
  • Benzoat benzyl 25%
  • Diethylphtalat (DEP)
- Có thể sử dụng một số thuốc khác như:
  • Mỡ lưu huỳnh 5-10% cho trẻ em và cho người lớn, đặc biệt cho người bệnh dưới 2 tháng tuổi, phụ nữ có thai và cho con bú (nhược điểm có mùi hôi, nhưng rất an toàn).
  • Crotaminton 10%
  • Có thể dùng vỏ cây ba chạc đen tắm hoặc dầu hạt máu chó.

- Cách bôi: tắm sạch bằng xà phòng, sau đó bôi thuốc lên thương tổn ngày một lần vào buổi tối.
- Giặt sạch và phơi khô quần áo, chăn màn.
- Trường hợp ghẻ bội nhiễm: dùng milian hoặc castellani.
- Nếu có chàm hoá: dùng hồ nước hoặc kem chứa corticoid bôi trong 1-2 tuần.
- Ghẻ Na Uy: ngâm, tắm sau đó bôi mỡ salicylé để bong sừng rồi bôi thuốc diệt ghẻ.

Toàn thân

  • Dùng thuốc kháng histamin tổng hợp đường uống.
  • Ivermectin liều 200µg/kg cân nặng, liều duy nhất. Chỉ định trong các trường hợp ghẻ kháng trị với các thuốc điều trị cổ điển, ghẻ Na Uy, ghẻ ở người nhiễm HIV. Chống chỉ định trẻ dưới 5 tuổi và phụ nữ có thai.

TIÊN LƯỢNG, BIẾN CHỨNG VÀ PHÒNG BỆNH

Tiên lượng và biến chứng

  1. Chàm hoá: người bệnh ngứa, gãi; xuất hiện các mụn nước tập trung thành đám.
  2. Bội nhiễm: các mụn nước xen kẽ các mụn mủ, có thể kèm phù nề, loét.
  3. Lichen hoá: do ngứa nên người bệnh gãi nhiều, gây dầy da và thâm da.
  4. Viêm cầu thận cấp: ở trẻ bị ghẻ bội nhiễm, nếu không điều trị hoặc điều trị không khỏi sẽ gây bệnh tái phát nhiều lần.

Phòng bệnh

  • Vệ sinh cá nhân hằng ngày sạch sẽ.
  • Điều trị bệnh sớm, tránh tiếp xúc và không dùng chung đồ dùng của người bị bệnh.

Tài liệu tham khảo

  1. Da liễu - Bộ Y Tế