Đái dầm

Post key: d9d078ce-8159-5fcd-8404-a519154feb9a
Slug: đai-dam
Excerpt: Đái dầm là tình trạng trẻ ≥ 5 tuổi (theo tuổi tâm thần và tuổi đời) đi tiểu ra quần áo hoặc ra giường không kiểm soát, lặp lại ≥ 2 lần/tuần trong ≥ 3 tháng, và/hoặc gây ảnh hưởng rõ về lo âu hoặc suy giảm chức năng học tập–xã hội. Bài viết tóm tắt nguyên nhân (chậm trưởng thành kiểm soát bàng quang, yếu tố hành vi, di truyền, căng thẳng tâm lý, rối loạn phối hợp như ADHD/táo bón, hội chứng Hinman), chẩn đoán xác định và phân biệt với nguyên nhân thực thể (nhiễm trùng tiết niệu, tắc nghẽn, bất thường cấu trúc hệ tiết niệu, tật nứt đốt sống), cũng như hướng tiếp cận điều trị: loại trừ căn nguyên thực thể, phối hợp liệu pháp hành vi (chuông báo đái dầm, luyện tập bàng quang, theo dõi bằng biểu đồ) và điều trị hóa dược khi cần (imipramine; desmopressin/DDAVP), kèm tâm lý trị liệu cho các vấn đề phối hợp; đồng thời nêu tiên lượng, biến chứng và phòng bệnh. Có đối chiếu theo Quyết định 2058/QĐ-BYT ngày 14/05/2020.
Recognized tags: chan-doan, dieu-tri, du-phong, tre-em, bo-y-te

GIỚI THIỆU

Đái dầm được định nghĩa là tình trạng bài tiết nước tiểu lặp lại ra quần áo hoặc ra giường, bất kể có chủ ý hay không chủ ý. Các hành vi này được xem là phù hợp với tiêu chuẩn nếu xảy ra 2 lần trong 1 tuần trong ít nhất 3 tháng và/hoặc tạo ra lo âu rõ rệt hoặc suy giảm chức năng học tập–xã hội. Trẻ phải đạt độ tuổi tối thiểu 5 tuổi (tính theo tuổi tâm thần và tuổi đời).

NGUYÊN NHÂN

  • Cơ chế kiểm soát bàng quang diễn tiến theo hướng trưởng thành dần dần, chịu ảnh hưởng bởi sự phát triển thần kinh–cơ và nhận thức, các yếu tố cảm xúc–xã hội, việc giáo dục cách sử dụng toilet cũng như yếu tố di truyền. Khi có rối loạn ở một hoặc nhiều yếu tố trên, có thể xuất hiện tình trạng chậm trễ trong hoàn thiện chức năng bài tiết nước tiểu.
  • Rối loạn chức năng bài tiết nước tiểu không do một nguyên nhân thần kinh đặc hiệu thường được quy cho các yếu tố hành vi làm sai lệch thói quen bài tiết thông thường và ức chế sự trưởng thành của khả năng kiểm soát, tự chủ chức năng bài tiết. Dạng rối loạn nghiêm trọng nhất là hội chứng Hinman, đặc trưng bởi sự cố gắng nhịn không đi tiểu khi có nhu cầu hoặc tình trạng rò rỉ nước tiểu thông qua sự co thắt tự chủ của cơ thắt ngoài. Theo thời gian, cảm giác buồn tiểu giảm dần và bàng quang thường có tình trạng ứ đọng nước tiểu, từ đó dẫn đến đái dầm về đêm (thời điểm mà bàng quang được thư giãn và không còn bới bất kỳ kháng trở nào).
  • Yếu tố di truyền: rối loạn đái dầm có xu hướng xuất hiện với tỉ lệ cao hơn một cách có ý nghĩa ở các đối tượng có quan hệ họ hàng bậc 1. 75% trẻ bị rối loạn đái dầm có người thân từng bị rối loạn đái dầm. Nguy cơ rối loạn đái dầm tăng 7 lần nếu trẻ có bố bị rối loạn đái dầm.
  • Căng thẳng tâm lý: ở trẻ nhỏ, rối loạn có thể đặc biệt liên quan với các sự kiện như sinh một người em, bắt đầu đi học, hoặc tình trạng tan vỡ gia đình…
  • Rối loạn tâm thần: chậm phát triển tâm thần, ADHD.

CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán xác định

  • Đái dầm là tình trạng bài tiết nước tiểu lặp đi lặp lại ra quần áo hoặc ra giường, cố ý hoặc không cố ý. Để chẩn đoán, trẻ phải đạt mức độ phát triển tâm thần nhất định, tối thiểu là 5 tuổi. Hành vi đái dầm cần xảy ra 2 lần trong 1 tuần, duy trì ít nhất trong 3 tháng. Đồng thời phải loại trừ các nguyên nhân thực thể.
  • Trẻ có rối loạn đái dầm cũng có thể mắc đồng thời rối loạn ỉa bậy.
  • DSM-IV-TR và ICD-10 phân loại rối loạn đái dầm thành 3 nhóm: chỉ ban đêm, chỉ ban ngày và cả ban đêm lẫn ban ngày.

Tiêu chuẩn chẩn đoán đái dầm theo ICD -10

  • A. Tuổi tâm thần và tuổi đời của trẻ ít nhất là 5 tuổi.
  • B. Bài tiết nước tiểu không chủ ý và tự chủ ra đường và quần áo xảy ra ít nhất 2 lần trong 1 tháng ở những trẻ dưới 7 tuổi, và ít nhất 1 lần trong 1 tháng ở những trẻ từ 7 tuổi trở lên.
  • C. Đái dầm không phải là hậu quả của cơn động kinh hoặc đái không tự chủ do thần kinh, và không phải là hậu quả trực tiếp của các bất thường cấu trúc của hệ thận tiết niệu hoặc bất kỳ bệnh nội ngoại khoa nào (không tâm thần) khác.
  • D. Không tồn tại bất kỳ rối loạn tâm thần nào đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD-10.
  • E. Thời gian tồn tại của rối loạn ít nhất 3 tháng.
Biệt định:
  • F98.00. Chỉ đái dầm ban đêm.
  • F98.01. Chỉ đái dầm ban ngày.
  • F98.02. Đái dầm cả ban đêm và ban ngày.

Cận lâm sàng

  • Không có xét nghiệm đặc hiệu để chẩn đoán rối loạn đái dầm, vì vậy cần loại trừ các yếu tố thực thể (ví dụ: nhiễm khuẩn đường tiết niệu, bất thường cấu trúc hệ thận – tiết niệu…).
  • Đánh giá tình trạng tâm thần và tâm lý bằng các thang đánh giá trầm cảm Beck, Hamilton; thang đánh giá lo âu Zung, Hamilton; thang đánh giá trầm cảm ở trẻ em; thang đánh giá lo âu – trầm cảm – stress (DASS); thang đánh giá sự phát triển ở trẻ em (DENVER II); thang đánh giá hành vi trẻ em CBCL…
  • Thực hiện các xét nghiệm thường quy: công thức máu, sinh hóa máu, tổng phân tích nước tiểu, điện tim, siêu âm ổ bụng, x-quang tim phổi…
  • Điện não đồ, cắt lớp vi tính sọ não, MRI sọ não…

Chẩn đoán phân biệt

  • Các nguyên nhân thực thể thuộc đường sinh dục–tiết niệu: nhiễm trùng đường tiết niệu (cao và thấp), tắc nghẽn đường tiết niệu, bất thường cấu trúc hệ tiết niệu và tật nứt đốt sống.
  • Rối loạn thực thể gây đa niệu: đái tháo đường, đái tháo nhạt.
  • Rối loạn giấc ngủ: mộng du.
  • Rối loạn ý thức: động kinh, nhiễm độc.
  • Tác dụng phụ của thuốc chống loạn thần.

ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc điều trị

  • Phối hợp can thiệp hành vi với liệu pháp hóa dược.
  • Loại trừ các căn nguyên thực thể.
  • Điều trị các rối loạn phối hợp, bao gồm ADHD và tình trạng táo bón.

Điều trị cụ thể

Liệu pháp hành vi

  • Chuông báo đái dầm (Enuresis alarm) được xem là phương pháp hiệu quả nhất trong điều trị rối loạn đái dầm; tỉ lệ đạt đáp ứng (đái dầm hết) là 50% trường hợp. Thiết bị được kích hoạt khi cảm biến đặt ở tấm đệm hoặc trên quần áo bị ướt, làm trẻ tỉnh giấc và từ đó ngừng đi tiểu. Cha mẹ cần đánh thức trẻ khi chuông báo hoạt động; nếu không trẻ có xu hướng tắt máy và tiếp tục ngủ. Thiết bị nên được đeo mỗi đêm. Thời gian điều trị duy trì trong 2 – 3 tháng tính từ khi trẻ hết đái dầm trong 14 đêm liên tục. Các trường hợp khó thường gặp ở trẻ em và gia đình không tuân thủ do việc sử dụng thiết bị làm rối loạn sinh hoạt gia đình và/hoặc sử dụng không đúng cách.
  • Có thể áp dụng luyện tập bàng quang kèm cơ chế khen thưởng.
  • Sử dụng biểu đồ ghi chép được khuyến nghị vì hữu ích trong theo dõi đáp ứng điều trị và bản thân biểu đồ cũng có thể đóng vai trò như một yếu tố củng cố.

Điều trị hóa dược

  • Cân nhắc chỉ định khi rối loạn đái dầm gây giảm các chức năng xã hội, gia đình, học tập và hoạt động, ảnh hưởng đến chế độ ăn uống và tình trạng hạn chế nước không mang lại hiệu quả.
  • Imipramine: đã được chấp thuận trong điều trị đái dầm ở trẻ em. Có 30% bệnh nhân hết triệu chứng và 85% giảm mức độ đái dầm so với trước điều trị. Tuy nhiên hiệu quả kéo dài không bền vững, thường sau 6 tuần sẽ xuất hiện hiện tượng quen thuốc. Khi ngừng thuốc, đái dầm thường tái phát sau một vài tháng. Tác dụng phụ đặc biệt trên tim mạch được xem là vấn đề nghiêm trọng.
  • Thuốc chống trầm cảm 3 vòng (Amitriptyline) không được sử dụng phổ biến do những tác dụng không mong muốn.
  • Desmopressin (DDAVP): là thuốc chống bài niệu, được khuyến cáo ở mức A theo Tư vấn quốc tế về rối loạn bài tiết (ICI năm 2009). Thuốc làm giảm tình trạng đái dầm ở 10 – 90% trẻ. Thuốc có dạng viên (0,2 – 06 mg) hoặc dạng xịt (Melt, 120 – 360 µg). Liều dùng: uống 1h trước khi đi ngủ. Cần hạn chế nước trong vòng 1h trước khi dùng thuốc và 8h sau khi dùng thuốc. Thuốc được dùng hằng ngày, khởi đầu điều trị trong 2 – 6 tuần. Nếu đáp ứng tốt có thể tiếp tục trong 3 – 6 tháng. Tác dụng phụ gồm: đau đầu, nghẹt mũi, chảy máu cam, đau dạ dày; trong đó nguy hiểm nhất là cơn hạ natri máu.

Tâm lý trị liệu

  • Có ích trong điều trị các rối loạn tâm thần đi kèm hoặc trong việc giải quyết các vấn đề khó khăn thứ phát do cảm xúc hoặc do yếu tố gia đình.

TIÊN LƯỢNG VÀ BIẾN CHỨNG

  • Đái dầm thường tự giảm dần theo thời gian và nhìn chung không để lại di chứng về mặt tâm lý.
  • Khoảng 80% trẻ bị rối loạn đái dầm không thể hết hoàn toàn trước 1 năm. Đái dầm chỉ hết sau ít nhất 1 năm ở độ tuổi từ 5 đến 8 tuổi. Nếu tình trạng kéo dài đến tận tuổi trưởng thành thì cần kiểm tra nguyên nhân thực thể.
  • Một số trường hợp đái dầm kéo dài có liên quan đến các rối loạn tâm thần kèm theo.
  • Tình trạng tái phát có thể xảy ra ở trẻ đang hồi phục tự nhiên hoặc trong quá trình điều trị.
  • Hậu quả đáng kể bao gồm không có cái nhìn tích cực về bản thân, giảm tự trọng, giảm giao tiếp xã hội, thu mình và xung đột trong gia đình.

PHÒNG BỆNH

  • Hiện không có nhiều biện pháp phòng ngừa đái dầm; tuy nhiên đảm bảo giấc ngủ phù hợp có thể giúp giảm nguy cơ.
  • Hướng dẫn trẻ sử dụng toilet khi trẻ đã đủ khả năng kiểm soát cơ bàng quang. Ở trẻ nhỏ, việc xảy ra các “tai nạn” đái dầm trong giai đoạn đang học cách kiểm soát cơ bàng quang được coi là hiện tượng bình thường.

Tài liệu tham khảo

  1. Quyết định số 2058/QĐ-BYT Ngày 14 tháng 05 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Y Tế về: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số rối loạn tâm thần thường gặp