GIỚI THIỆU
XÂY DỰNG MỘT ĐỘI CẤP CỨU Y TẾ HOẶC PHẢN ỨNG NHANH
Thành phần đội phản ứng nhanh
| Bảng A1-1 | Các thành viên có thể có trong đội cấp cứu y tế hoặc đội phản ứng nhanh |
|---|---|
| Bác sĩ (tham dự, đồng nghiệp, nội trú) | Bác sĩ ICU, bác sĩ bệnh viện, bác sĩ cấp cứu, bác sĩ gây mê, bác sĩ hô hấp, bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ nội khoa |
| Nhân viên y tế thực hành nâng cao | Điều dưỡng chuyên khoa, phụ tá bác sĩ. |
| Điều dưỡng | Điều dưỡng ICU, điều dưỡng đơn vị chăm sóc sau gây mê, điều dưỡng khoa cấp cứu, điều dưỡng đơn vị giàm sát từ xa, điều dưỡng gây mê có đăng ký được chứng nhận, giám sát điều dưỡng (điều dưỡng trưởng) |
| Nhân viên khác | nhân viên trị liệu hô hấp, kỹ thuật viên điện tim, kỹ thuật viên / nhân viên y tế cấp cứu |
- Điều dưỡng ICU tham dự và/hoặc đồng nghiệp, điều dưỡng ICU, nhân viên trị liệu hô hấp, dược sĩ
- Bác sĩ bệnh viện, bác sĩ nội trú hoặc nhân viên y tế thực hành nâng cao, điều dưỡng ICU, nhân viên trị liệu hô hấp
- Y tá ICU, nhân viên trị liệu hô hấp, bác sĩ (dự phòng)
- Bác sĩ khoa cấp cứu hoặc nhân viên y tế thực hành nâng cao, bác sĩ bệnh viện, điều dưỡng ICU, nhân viên liệu hô hấp.
- Điều dưỡng khoa cấp cứu, điều dưỡng ICU, nhân viên liệu hô hấp.
- Điều dưỡng đơn vị chăm sóc sau gây mê, nhân viên trị liệu hô hấp, bác sĩ (dự phòng).
Trang thiết bị của đội phản ứng nhanh
|
Bảng A1-2: Danh sách thiết bị của đội phản ứng nhanh.
Thiết bị và vật tư cần thiết nên có sẵn tại khu vực bệnh nhân hoặc được RRT mang theo. |
|---|
| Màn hình theo dõi sinh lý |
| Monitor/ máy khử rung với khả năng tạo nhịp tim bên ngoài lồng ngực. |
| Thiết bị đo HA không xâm lấn. |
| Máy đo SpO2. |
| Đo CO2 di động (nếu có sẵn). |
| Thiết bị tim mạch |
| Thiết bị đo huyết áp bằng tay. |
| Bộ KITS đặt IV. |
| Catheter IV. |
| Thiết bị hô hấp |
| Bình oxy di động |
| Thiết bị hút di động |
| Mặt nạ túi khí thở oxy lưu lượng cao |
| Thiết bị Bóng Mask |
| Ventimask, cannula mũi và mặt nạ(Mask) đơn giản |
| Mặt nạ phun khí dung |
| Airway miệng họng / mũi họng |
| Airway Mask thanh quản |
| Thiết bị soi thanh quản và lưỡi đèn |
| Ống nội khí quả các kiểu |
| Bộ KIT catheter màng nhẫn giáp. |
| Ống nghe |
| Khác |
| Thiết bị bảo vệ cá nhân |
| Găng tay vô trùng |
| Băng vải và băng cuộn |
| Thuốc sát trùng |
| Túi thuốc (phù hợp với phạm vi thực hành) |
| Thuốc vận mạch |
| Thuốc tăng co bóp cơ tim (Inotropes) |
| Thuốc giãn mạch |
| Thuốc an thần và thuốc giảm đau |
| Thuốc giãn phế quản |
| Dịch tinh thể và cao phân tử IV |
| Aspirin |
| Xem xét máy siêu âm xách tay nếu có |
KÍCH HOẠT ĐỘI CẤP CỨU Y TẾ / ĐỘI PHẢN ỨNG NHANH
Tiêu chí kích hoạt và cơ chế kích hoạt
Tiêu chí kích hoạt quan trọng nhất là sự lo lắng của bác sĩ điều trị tại giường, nhân viên điều dưỡng hoặc gia đình rằng “có điều gì đó không ổn”, dù các chỉ số khác vẫn có thể nằm trong giới hạn chấp nhận được. Trực giác này thường khá nhạy và cần được xem xét thêm. Tuy nhiên, trực giác hay cảm nhận chủ quan không đặc hiệu, do đó không khuyến khích việc kích hoạt MET hoặc RRT chỉ dựa vào cảm giác đó.
Việc sử dụng một bộ tiêu chí kích hoạt MET/RRT được xác định trước có thể giúp tập trung sự chú ý vào các chỉ số sinh lý quan trọng giai đoạn sớm và cho phép nhân viên trực tại giường được ủy quyền để gọi trợ giúp sớm. Các tiêu chí này có thể dựa trên:
- Phát hiện thay đổi sinh lý cấp tính.
- Dấu hiệu và triệu chứng gợi ý rối loạn của từng hệ cơ quan.
- Các sự kiện kích hoạt (Bảng A1-3).
Những thay đổi sinh lý cấp tính có thể bao gồm các biến đổi của dấu hiệu sinh tồn vượt quá các giới hạn được định sẵn, như nhịp tim nhanh, thở nhanh, hạ huyết áp và thiểu niệu. Việc nhận diện một hoặc nhiều chỉ số phản ánh rối loạn chức năng hệ thống cơ quan có thể được dùng để kích hoạt đội phản ứng nhanh. Nhận biết các mẫu hình như vậy thường hiệu quả hơn trong việc phát hiện tình trạng xấu đi về lâm sàng khi các biến số sinh lý thay đổi dần dần.
| Bảng A1-3 | Mô hình tiêu chí kích hoạt |
|---|---|
| Tiêu chí thay đổi sinh lý cấp tính | |
|
|
| Tiêu chí dành riêng cho hệ thống cơ quan | |
| Đường thở |
|
| Nhịp thở |
|
| Tuần hoàn |
|
| Thần kinh |
|
| Khác |
|
| Sự kiện kích hoạt | |
|
|
Sự kiện kích hoạt có vai trò nhấn mạnh rằng một số biến cố hoặc can thiệp của bệnh nhân đòi hỏi đánh giá thêm. Sự kiện có thể là một dấu hiệu hoặc là kết quả của một vấn đề lớn hơn, vốn có thể là mối đe dọa đang diễn ra đối với an toàn người bệnh. Ví dụ, việc sử dụng Naloxone là một chỉ dấu cho thấy một hoặc nhiều hơn tác dụng không mong muốn của Opiate có thể đã xảy ra. Mặc dù Naloxone có thể tạm thời đảo ngược các tác dụng phụ này, chúng vẫn có thể tái phát do hiệu ứng đối kháng. Việc đánh giá tập trung bởi MET hoặc RRT có thể giúp tránh những hậu quả không mong muốn của các sự kiện như vậy.
Hệ thống bảng điểm
Việc dùng hệ thống tính điểm khi đánh giá bệnh nhân có nguy cơ có thể cung cấp một đánh giá phân loại về tình trạng lâm sàng, đồng thời giúp xác định mức độ đáp ứng cần thiết. Điểm tổng thể được tính dựa trên tổng số điểm gán cho các triệu chứng khác nhau, các dấu hiệu sinh tồn và kết quả xét nghiệm. Các điểm bổ sung được gán cho những kết quả có mức độ thay đổi đáng kể so với bình thường.
Một số hệ thống tính điểm cảnh báo sớm đã được xây dựng sẵn (NEWS, MEWS, PEWS, Modified NEWS COVID-19, ..), mặc dù không phải tất cả đều đã được xác nhận. Điểm cảnh báo sớm sửa đổi The Modified Early Warning Score (MEWS) đánh giá các dấu hiệu sinh tồn và tình trạng ý thức của người bệnh, và đã được xác nhận ở bệnh nhân nhập viện. Một điểm 5 hoặc lớn hơn có liên quan đến tăng tỷ lệ tử vong và tăng tỷ lệ nhập vào ICU.
Các chương trình MET hoặc RRT ở từng cơ sở có thể lựa chọn xác định ngưỡng theo giá trị tuyệt đối hoặc theo xu hướng để kích hoạt chuyển sang cấp độ chăm sóc cao hơn hoặc huy động thêm nguồn lực lâm sàng. Tổng hợp và phân tích tổng điểm ở bệnh nhân đang tiếp nhận dịch vụ MET hoặc RRT có thể được sử dụng cho nỗ lực cải thiện chất lượng, ví dụ như đánh giá việc sắp xếp các lựa chọn, nhận biết nhóm sự kiện và sử dụng nguồn lực.
ĐỘI PHẢN ỨNG NHANH (RRT)
Kiến thức cần có của RRT
Can thiệp
Các biện pháp can thiệp cần hướng tới mục tiêu ổn định nhanh cho bệnh nhân và phòng ngừa tình trạng xấu thêm nữa hoặc ngừng (tim phổi) hoàn toàn. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ba lý do phổ biến nhất để kích hoạt MET hoặc RRT là: thiếu oxy, hạ huyết áp và thay đổi tình trạng ý thức. Các đội cần nhận diện các sự kiện kích hoạt chính trong phạm vi các khoa phòng của họ và xây dựng các phác đồ nhằm xử trí từng sự kiện một cách nhanh chóng.
Nguy kịch hô hấp là nguyên nhân sinh lý hàng đầu của việc kích hoạt MET hoặc RRT. Những lý do cho các thay đổi cấp tính có thể bao gồm tình trạng dịch, thuốc (ví dụ: ma túy), tiến triển của bệnh nền hoặc việc bệnh nhân không tuân thủ các liệu pháp điều trị oxy theo yêu cầu của bác sĩ. Can thiệp ban đầu là ổn định đường thở và áp dụng oxy dòng chảy cao để “giải cứu” nguy kịch và cải thiện độ bảo hòa oxy. Sau khi tình trạng bệnh nhân được cải thiện, nhóm có thể đánh giá các nguyên nhân có thể đảo ngược tiềm tàng.
Hạ huyết áp có thể liên quan đến trạng thái thể tích (bao gồm thể tích tổng thể và thể tích máu); các thuốc sử dụng, gồm ma túy và thuốc hạ huyết áp; và khả năng kèm theo nhiễm trùng huyết. Điều trị ban đầu là truyền dịch nhằm tăng huyết áp tâm thu và/hoặc đảo ngược ngay lập tức một nguyên nhân đã biết, ví dụ như ma túy. Cần cân nhắc sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm trong trường hợp nghi ngờ nhiễm trùng huyết nặng hoặc sốc nhiễm trùng.
Thay đổi tình trạng ý thức phần lớn thường liên quan đến thiếu oxy, hạ huyết áp hoặc hạ đường huyết. Các nguyên nhân này cần được đánh giá và điều trị trước tiên. Nếu thay đổi tình trạng ý thức không liên quan đến những vấn đề nói trên, cần đánh giá các nguyên nhân thần kinh hoặc do thuốc. Việc điều trị, bao gồm đánh giá bằng chụp cắt lớp tính (CT), phải được thực hiện theo định hướng.
Đội phản ứng nhanh cần thực hiện mọi nỗ lực phối hợp với bác sĩ chính và nhóm đi buồng (đa chuyên ngành) của bệnh nhân trong các quyết định liên quan đến xử trí và chăm sóc. Vai trò của một MET hoặc RRT không phải nhằm thay thế nhóm làm việc chính, mà là hành động cùng với và hỗ trợ cho họ tại giường bệnh trong tình huống khẩn cấp.
Giao tiếp
Trong bối cảnh bệnh viện phức tạp, việc dùng một công cụ giao tiếp có cấu trúc và ngôn ngữ thảo luận chuẩn hóa sẽ thúc đẩy giao tiếp cởi mở giữa các người chăm sóc, là điều thiết yếu cho việc đánh giá nhanh và quản lý bệnh nhân có nguy cơ. Việc tích hợp công cụ Tình huống (Situation), Bệnh sử (Background), Đánh giá (Assessment) và Đề xuất(Recommendattion) (SBAR) vào ghi chép MET hoặc RRT có thể tạo lập sự trao đổi thông tin hiệu quả bằng cách tập hợp toàn bộ dữ liệu của bệnh nhân trong cùng một nơi cho mọi cuộc thảo luận nhằm mục đích theo dõi. Công cụ này đã được chứng minh có giá trị trong giao tiếp hiệu quả thông tin quan trọng. (Bảng A1-4)
| Bảng A1-4 | Công cụ giao tiếp SBAR |
|---|---|
| Tình huống (S) | Điều gì đang xảy ra với bệnh nhân ? |
| Bệnh sử (B) | Bệnh sử hoặc bối cảnh lâm sàng là gì ? |
| Đánh giá (A) | Bạn nghĩ vấn đề là gì ? |
| Đề xuất(R)/ Can thiệp | Bạn sẽ làm gì để đánh giá hoặc điều trị nó ? |
Đào tạo
Một trong các mục tiêu trọng tâm của các đội MET và RRT là đào tạo. Bộ phận “phát hiện” của mô hình RRS chủ yếu dựa vào việc nhận biết sớm các dấu hiệu và triệu chứng của tình trạng xấu đi trên lâm sàng. Nhân viên cần được lên lịch diễn tập thường xuyên trong thực hiện dịch vụ và tham gia các sự kiện mô phỏng; những hoạt động này có hiệu quả trong việc duy trì năng lực nhận định bệnh nhân có nguy cơ.
Việc đăng công khai và thảo luận các tiêu chí kích hoạt có thể nâng cao việc sử dụng dịch vụ MET hoặc RRT và giảm các biến cố lâm sàng của bệnh nhân. Công tác đánh giá hậu kỳ về chất lượng, dựa trên dữ liệu tổng hợp từ hoạt động của đội phản ứng nhanh, cũng có thể củng cố đào tạo.
Đánh giá sau sự kiện đối với một biến cố bệnh nhân với toàn bộ nhân viên trong đơn vị sau khi có cuộc gọi MET hoặc RRT nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng tập thể của toàn bộ nhóm. Điều này có thể làm giảm khả năng xảy ra các vấn đề tiếp theo và tăng khả năng các dấu hiệu và triệu chứng của tình trạng xấu đi trên lâm sàng sẽ được nhận biết sớm nhất ở các bệnh nhân trong tương lai.
Các bài thuyết trình theo chủ đề của tuần, đánh giá tình huống MET hoặc RRT và các buổi thực hành SBAR là những ví dụ về hoạt động đào tạo có mục tiêu.
CÁC CHIẾN LƯỢC ĐỂ THÀNH CÔNG
- Đào tạo / Giáo dục: Các thành viên MET hoặc RRT và nhân viên điều dưỡng làm việc trực tiếp tại giường bệnh phải nắm được thời điểm cần kích hoạt đội phản ứng nhanh, cũng như cách thức tiến hành kích hoạt và phạm vi khả năng của nhóm. Các thành viên đội cần được đào tạo liên tục về kiểm soát các chỉ số thường gặp ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ, đồng thời nắm vững các chiến lược can thiệp và giao tiếp hiệu quả. Việc cố vấn cho điều dưỡng tại giường về kỹ năng đánh giá quan trọng và kỹ năng giao tiếp hiệu quả là một mục tiêu giáo dục chủ chốt của đội. Mô phỏng có độ chính xác cao trong trung tâm mô phỏng có giá trị, nhưng mô phỏng độ chính xác thấp với các tình huống cấp cứu y tế giả lập hoặc bài tập trên bàn cũng có thể đạt hiệu quả. Có thể tổ chức các buổi thuyết trình tình huống dựa trên kịch bản sử dụng bảng đen hoặc giấy trong mọi cơ sở lâm sàng.
-
Thiết bị / Vật tư: Thiết bị và vật tư do đội phản ứng nhanh mang theo cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu của nhóm bệnh nhân mà đội phục vụ, tuy nhiên vẫn phải được chuẩn hóa để bảo đảm rằng các nguồn lực phù hợp luôn sẵn sàng mỗi khi đội đến giường bệnh sau từng cuộc gọi. Nếu sử dụng nhiều túi RRT, các vật dụng cần được sắp xếp theo từng túi nhằm thuận tiện cho việc lấy nhanh chóng tại giường. Không phù hợp khi đội mang theo toàn bộ vật dụng sẵn có trong ICU. Việc sử dụng thiết bị cần được xem xét như một phần của chương trình cải tiến chất lượng. Những vật dụng ít khi sử dụng nên được loại bỏ, trừ khi chúng có vai trò quan trọng trong xử trí các biến cố không thường xuyên nhưng có nguy cơ cao. Đội ứng phó nên cố gắng chỉ mang theo các thiết bị và vật tư thật sự cần thiết.
-
Văn hóa trao quyền: Điều dưỡng cần được đào tạo để nhận biết các dấu hiệu xấu đi trên lâm sàng trước khi xảy ra biến cố, đồng thời tin tưởng vào kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn của bản thân. Điều dưỡng cần được trao quyền và được hỗ trợ bởi trưởng nhóm, để kích hoạt MET hoặc RRT theo các tiêu chí đã thiết lập. Không có hình thức xử phạt đối với việc kích hoạt MET hoặc RRT, đặc biệt khi các phát hiện không chỉ điểm rõ một biến cố lâm sàng sắp xảy ra. Những sự kiện như vậy có thể giúp xác định các lĩnh vực cần đào tạo trọng tâm liên quan đến việc phát hiện dấu hiệu xấu đi trên lâm sàng, hoặc xem xét các nguy cơ vốn có đối với nhóm bệnh nhân cụ thể.
-
Đánh giá: Việc thu thập dữ liệu cần được tích hợp vào quy trình làm việc lâm sàng để hỗ trợ theo dõi các kết quả lâm sàng và dịch vụ. Báo cáo định kỳ, giám sát và đánh giá hoạt động cũng như kết quả của nhóm phản ứng nhanh giúp định hướng cải tiến nhanh chóng các quy trình của nhóm. Dữ liệu về mức độ hài lòng của bệnh nhân và gia đình giúp ưu tiên cho việc phát triển chương trình và phân bổ nguồn lực. Cần duy trì đối thoại liên tục giữa các bên liên quan nhằm xác định các cơ hội cải tiến.
TÓM TẮT
- Thành phần đội phù hợp.
- Tiêu chí kích hoạt dựa trên mối quan tâm của nhân viên tại giường bệnh, những thay đổi cấp tính trong sinh lý, hoặc việc sử dụng hệ thống tính điểm để xác định bệnh nhân có nguy cơ.
- Các biện pháp can thiệp nhằm ổn định bệnh nhân nhanh chóng.
- Các chiến lược giao tiếp hiệu quả, ví dụ SBAR.
- Đào tạo liên tục để tăng cường phát hiện và xử trí các biến cố lâm sàng tiềm ẩn.
- Sự sẵn có của máy móc theo dõi lâm sàng tiên tiến thích hợp, trang thiết bị và thuốc để thực hiện các hoạt động MET hoặc RRT.
- Đánh giá và hiệu chỉnh các quy trình, cũng như các nguyên nhân có thể gây rủi ro cho bệnh nhân.
Tài liệu tham khảo
- FCCS 2018