FCCS: Hệ thống phản ứng nhanh (RRS)

Post key: d9eef4e5-ac36-5ca0-984b-9e07246e9f03
Slug: fccs-he-thong-phan-ung-nhanh-rrs
Excerpt: Hệ thống phản ứng nhanh (Rapid Response System – RRS) là mô hình huy động đội phản ứng nhanh (RRT/MET) đến giường bệnh khi bệnh nhân nhập viện có dấu hiệu xấu đi đột ngột, nhằm ngăn ngừa chuyển ICU, ngừng tim và tử vong. Bài tổng quan trình bày: (1) cấu phần của RRS và mô hình tổ chức đội (thành phần, trang thiết bị), (2) tiêu chí kích hoạt và cơ chế gọi đội, bao gồm các thay đổi sinh lý cấp tính, rối loạn ý thức, và các sự kiện kích hoạt, (3) kiến thức – can thiệp ban đầu của RRT tập trung vào ổn định nhanh (đặc biệt xử trí nguy kịch hô hấp, hạ huyết áp, rối loạn ý thức), (4) công cụ giao tiếp SBAR trong ghi chép/cập nhật y lệnh, (5) đào tạo, diễn tập mô phỏng và các “chiến lược thành công” để duy trì hiệu quả chương trình. Tài liệu tham khảo: FCCS 2018.
Recognized tags: khan-cap, nang, nguy-kich, icu, cap-cuu

GIỚI THIỆU

Hệ thống phản ứng nhanh (Rapid Response System – RRS) đã được xác định như một nguồn lực quan trọng, hướng trọng tâm đến người bệnh nội trú có tình trạng diễn tiến xấu ngoài dự kiến, xảy ra đột ngột do mọi nguyên nhân.
Đội phản ứng nhanh RRT (Rapid Respone Team)
Trong bối cảnh lịch sử, các đội xử trí biến cố thường chỉ được huy động sau khi xảy ra một sự kiện nặng, ví dụ ngừng tim; tuy nhiên chưa có một tiếp cận có tổ chức nhằm ngăn ngừa việc bỏ sót một biến cố tiềm tàng ở người bệnh nội trú có nguy cơ. Thực tế, phần lớn các trường hợp ngừng tim khi nằm viện đều đi kèm các dấu hiệu diễn tiến xấu có thể nhận biết được trong 8 giờ trước đó. Nhận diện sớm tình trạng xấu đi và can thiệp kịp thời có thể làm giảm tỷ lệ ngừng tim trong bệnh viện hoặc nhu cầu chuyển sang chăm sóc đặc biệt. Hệ thống phản ứng nhanh (RRS) đã được chứng minh giúp giảm tỷ lệ tử vong khi nhập viện và ngừng tim phổi, dù sự hiện diện của bác sĩ lâm sàng không liên quan đáng kể đến mức giảm tỷ lệ tử vong.
Dù vậy, các chỉ số sớm của diễn tiến xấu trên lâm sàng có thể khó xác định; việc đánh giá tình trạng bù trừ sinh lý của người bệnh cũng là một thách thức. RRS cung cấp cho nhân viên y tế có kinh nghiệm thêm các công cụ theo dõi nâng cao đến tận giường bệnh. Khi cần, có thể khởi động ngay lập tức theo dõi và điều trị nâng cao hơn, đồng thời đưa ra quyết định về mức độ chăm sóc thích hợp nhất. Trong toàn bộ quy trình, hành động quan trọng nhất là kêu gọi sự hỗ trợ.
Mô hình RRS có thể được phân chia thành bốn thành phần, mỗi thành phần đóng vai trò không thể thiếu đối với tính hiệu quả của chương trình (Hình A1-1). Bộ phận hành chính chịu trách nhiệm giám sát việc bố trí nhân sự phù hợp, cung cấp các nguồn lực, xây dựng các phác đồ và hướng dẫn, đồng thời bảo đảm công tác giáo dục nhân viên về sự tồn tại và lợi ích của dịch vụ. Nhóm phát hiện tập trung vào việc nhận biết tình trạng xấu đi sắp xảy ra, trong khi nhóm đáp ứng khủng hoảng (RRT/MET) tập trung vào việc điều trị và huy động nhanh chóng các nguồn lực bổ sung. Cuối cùng, nhóm cải tiến hiệu suất (đảm bảo chất lượng) hướng đến việc nhận diện các dạng diễn tiến xấu lặp lại và đánh giá mức độ cải thiện các biện pháp chất lượng sau các can thiệp trong phạm vi toàn hệ thống.
Hình A1-1: Cấu trúc hệ thống phản ứng nhanh RRS

XÂY DỰNG MỘT ĐỘI CẤP CỨU Y TẾ HOẶC PHẢN ỨNG NHANH

Các đội phản ứng nhanh phản ánh một ý tưởng đơn giản theo logic trực giác: khi người bệnh có dấu hiệu diễn tiến xấu về mặt lâm sàng sắp xảy ra, một đội nhân viên y tế sẽ được triệu tập đến ngay giường bệnh để đánh giá và can thiệp điều trị tức thì, nhằm mục tiêu ngăn ngừa chuyển đến ICU, ngừng tim hoặc tử vong. Đội phản ứng nhanh (RRT) là một bộ phận can thiệp cấu thành của RRS. Theo đồng thuận, đội cấp cứu y tế (MET) được dẫn đầu bởi một bác sĩ lâm sàng (bác sĩ hoặc nhân viên y tế thực hành nâng cao), còn RRT do một y tá và/hoặc nhân viên trị liệu hô hấp dẫn dắt. Tuy nhiên, gần đây hai thuật ngữ này đã được dùng thay thế lẫn nhau trong thực hành.

Thành phần đội phản ứng nhanh

Mặc dù không tồn tại một cấu phần đội hoàn hảo duy nhất, các MET và RRT đạt hiệu quả cao nhất thường được xây dựng bằng cách khai thác các nguồn lực sẵn có của bệnh viện và tập trung vào những nhóm người bệnh có nguy cơ cụ thể. Các mô hình đội đa chuyên khoa, do bác sĩ dẫn đầu (MET), rất phổ biến tại các trung tâm học thuật có chương trình đào tạo. Các đội điều trị do điều dưỡng hoặc điều dưỡng – hô hấp (RRT) đảm nhiệm với sự hỗ trợ của bác sĩ (hoặc cơ chế kiểm soát y tế tương tự mô hình dịch vụ y tế khẩn cấp) thường gặp hơn tại các bệnh viện cộng đồng không có chương trình đào tạo hệ thống. Dù theo cấu hình nào, kỹ năng làm việc nhóm hiệu quả là yếu tố then chốt quyết định thành công của chương trình. Việc triển khai các phác đồ chuẩn hóa hoặc các quy trình cho phép đội áp dụng các phương pháp thực hành tốt nhất dựa trên bằng chứng để giải quyết các vấn đề lâm sàng thường gặp đã được xác định. Ban quản lý hành chính của RRS cần phát triển các phác đồ và quy trình phù hợp với các chính sách và thủ tục thể chế. Các thành viên có thể có của MET hoặc RRT được liệt kê trong Bảng A1-1.
Bảng A1-1 Các thành viên có thể có trong đội cấp cứu y tế hoặc đội phản ứng nhanh
Bác sĩ (tham dự, đồng nghiệp, nội trú) Bác sĩ ICU, bác sĩ bệnh viện, bác sĩ cấp cứu, bác sĩ gây mê, bác sĩ hô hấp, bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ nội khoa
Nhân viên y tế thực hành nâng cao Điều dưỡng chuyên khoa, phụ tá bác sĩ.
Điều dưỡng Điều dưỡng ICU, điều dưỡng đơn vị chăm sóc sau gây mê, điều dưỡng khoa cấp cứu, điều dưỡng đơn vị giàm sát từ xa, điều dưỡng gây mê có đăng ký được chứng nhận, giám sát điều dưỡng (điều dưỡng trưởng)
Nhân viên khác nhân viên trị liệu hô hấp, kỹ thuật viên điện tim, kỹ thuật viên / nhân viên y tế cấp cứu
Tại một bệnh viện hàn lâm, cấu phần đội phản ứng có thể bao gồm các nhóm chăm sóc kết hợp sau:
  • Điều dưỡng ICU tham dự và/hoặc đồng nghiệp, điều dưỡng ICU, nhân viên trị liệu hô hấp, dược sĩ
  • Bác sĩ bệnh viện, bác sĩ nội trú hoặc nhân viên y tế thực hành nâng cao, điều dưỡng ICU, nhân viên trị liệu hô hấp
  • Y tá ICU, nhân viên trị liệu hô hấp, bác sĩ (dự phòng)
Tại một bệnh viện không giảng dạy, đội có thể bao gồm một trong các thành phần sau:
  • Bác sĩ khoa cấp cứu hoặc nhân viên y tế thực hành nâng cao, bác sĩ bệnh viện, điều dưỡng ICU, nhân viên liệu hô hấp.
  • Điều dưỡng khoa cấp cứu, điều dưỡng ICU, nhân viên liệu hô hấp.
  • Điều dưỡng đơn vị chăm sóc sau gây mê, nhân viên trị liệu hô hấp, bác sĩ (dự phòng).
Thông thường, các thành viên bác sĩ được đào tạo (hoặc đang trong quá trình đào tạo) về hồi sức tích cực, y học cấp cứu, gây mê hoặc nội khoa. Họ mang kiến thức về bệnh nặng và có kỹ năng xử trí các vấn đề đe dọa tính mạng đến tận giường bệnh. Các thành viên điều dưỡng thường có nhiều năm kinh nghiệm trực tiếp tại giường bệnh và phần lớn đã được đào tạo chuyên sâu về hồi sức tích cực. Các thành viên đến từ các chuyên khoa khác bổ sung thêm giá trị cho MET hoặc RRT nhờ hiểu biết về các yếu tố như quản lý đường thở và hô hấp, liệu pháp dùng thuốc, xử trí chấn thương và vận chuyển người bệnh nặng.
Các thành viên trong đội nhìn chung được kỳ vọng duy trì tình trạng sẵn sàng của nhân sự y tế với hỗ trợ sự sống cơ bản (BLS) và nâng cao (ACLS), hỗ trợ sự sống nâng cao cho nhi khoa (PALS) (nếu áp dụng) và hồi sức tích cực cơ bản. Các buổi luyện tập làm việc nhóm định kỳ với các tình huống giả hoặc tại các trung tâm mô phỏng y tế có thể tăng cường kỹ năng đánh giá và xử trí của các thành viên. Các phác đồ và quy trình điều trị cần được rà soát và hiệu chỉnh dựa trên phản hồi từ các cuộc gọi MET hoặc RRT cũng như dữ liệu cải tiến chất lượng.

Trang thiết bị của đội phản ứng nhanh

Việc sử dụng các monitor và thiết bị theo dõi sinh lý nâng cao do các thành viên MET được đào tạo thích hợp có thể hỗ trợ quan trọng cho nhóm người bệnh có nguy cơ. Điều này có thể làm tăng đáng kể khả năng của đội trong việc đánh giá và xử trí các dấu hiệu, triệu chứng của tình trạng xấu đi trên lâm sàng. Rõ ràng, bất thường càng được phát hiện và xử trí sớm thì khả năng đạt kết cục tích cực càng cao và thường can thiệp sẽ đơn giản hơn. MET hoặc RRT trước hết phải đánh giá các nguồn lực sẵn có tại các khu vực mà đội sẽ hỗ trợ, sau đó xây dựng danh sách các thiết bị cần thiết bổ sung (Bảng A1-2).
>Đội phản ứng phải được tiếp cận với máy theo dõi tim, hô hấp và huyết động đơn giản. Các thiết bị và thuốc khác cần được lựa chọn tùy theo nhóm người bệnh được phục vụ, thành phần đội, cũng như các quy định và chính sách của khu vực (khoa/phòng). Do MET hoặc RRT được kỳ vọng sẽ phản hồi nhanh chóng, mọi thiết bị và vật tư bổ sung cần thiết phải được sắp xếp trong các túi hoặc xe đẩy phù hợp để có thể sẵn sàng vận chuyển đến giường bệnh.
Bảng A1-2: Danh sách thiết bị của đội phản ứng nhanh.
Thiết bị và vật tư cần thiết nên có sẵn tại khu vực bệnh nhân hoặc được RRT mang theo.
Màn hình theo dõi sinh lý
Monitor/ máy khử rung với khả năng tạo nhịp tim bên ngoài lồng ngực.
Thiết bị đo HA không xâm lấn.
Máy đo SpO2.
Đo CO2 di động (nếu có sẵn).
Thiết bị tim mạch
Thiết bị đo huyết áp bằng tay.
Bộ KITS đặt IV.
Catheter IV.
Thiết bị hô hấp
Bình oxy di động
Thiết bị hút di động
Mặt nạ túi khí thở oxy lưu lượng cao
Thiết bị Bóng Mask
Ventimask, cannula mũi và mặt nạ(Mask) đơn giản
Mặt nạ phun khí dung
Airway miệng họng / mũi họng
Airway Mask thanh quản
Thiết bị soi thanh quản và lưỡi đèn
Ống nội khí quả các kiểu
Bộ KIT catheter màng nhẫn giáp.
Ống nghe
Khác
Thiết bị bảo vệ cá nhân
Găng tay vô trùng
Băng vải và băng cuộn
Thuốc sát trùng
Túi thuốc (phù hợp với phạm vi thực hành)
Thuốc vận mạch
Thuốc tăng co bóp cơ tim (Inotropes)
Thuốc giãn mạch
Thuốc an thần và thuốc giảm đau
Thuốc giãn phế quản
Dịch tinh thể và cao phân tử IV
Aspirin
Xem xét máy siêu âm xách tay nếu có

KÍCH HOẠT ĐỘI CẤP CỨU Y TẾ / ĐỘI PHẢN ỨNG NHANH

Tiêu chí kích hoạt và cơ chế kích hoạt

Tiêu chí kích hoạt quan trọng nhất là sự lo lắng của bác sĩ điều trị tại giường, nhân viên điều dưỡng hoặc gia đình rằng “có điều gì đó không ổn”, dù các chỉ số khác vẫn có thể nằm trong giới hạn chấp nhận được. Trực giác này thường khá nhạy và cần được xem xét thêm. Tuy nhiên, trực giác hay cảm nhận chủ quan không đặc hiệu, do đó không khuyến khích việc kích hoạt MET hoặc RRT chỉ dựa vào cảm giác đó.

Việc sử dụng một bộ tiêu chí kích hoạt MET/RRT được xác định trước có thể giúp tập trung sự chú ý vào các chỉ số sinh lý quan trọng giai đoạn sớm và cho phép nhân viên trực tại giường được ủy quyền để gọi trợ giúp sớm. Các tiêu chí này có thể dựa trên:

  • Phát hiện thay đổi sinh lý cấp tính.
  • Dấu hiệu và triệu chứng gợi ý rối loạn của từng hệ cơ quan.
  • Các sự kiện kích hoạt (Bảng A1-3).

Những thay đổi sinh lý cấp tính có thể bao gồm các biến đổi của dấu hiệu sinh tồn vượt quá các giới hạn được định sẵn, như nhịp tim nhanh, thở nhanh, hạ huyết ápthiểu niệu. Việc nhận diện một hoặc nhiều chỉ số phản ánh rối loạn chức năng hệ thống cơ quan có thể được dùng để kích hoạt đội phản ứng nhanh. Nhận biết các mẫu hình như vậy thường hiệu quả hơn trong việc phát hiện tình trạng xấu đi về lâm sàng khi các biến số sinh lý thay đổi dần dần.

Bảng A1-3 Mô hình tiêu chí kích hoạt
Tiêu chí thay đổi sinh lý cấp tính
  • Nhịp tim < 40 hoặc > 130 nhịp/phút.
  • Huyết áp tâm thu < 90 mmHg
  • Lượng nước tiểu < 50 mL trong 4 giờ
  • Tần số thở < 8 hoặc > 30 nhịp/phút
  • SpO2 < 90% mặc dù đã cho Oxy
  • Thay đổi về tình trạng ý thức
  • Tình trạng lâm sàng xấu đi
Tiêu chí dành riêng cho hệ thống cơ quan
Đường thở
  • Nguy kịch hô hấp
  • Đường thở bị đe dọa
Nhịp thở
  • Tần số thở > 30 nhịp/phút
  • Tần số thở < 6 nhịp/phút
  • SpO2 < 90% dù đã cung cấp oxy
  • Nói khó khăn
Tuần hoàn
  • Huyết áp < 90 mmHg mặc dù đã điều trị
  • Mạch > 130 nhịp/phút
Thần kinh
  • Bất kỳ sự suy giảm trong ý thức không thể giải thích
  • Kích động hoặc mê sảng mới
  • Co giật lặp lại hoặc kéo dài
Khác
  • Lo lắng về bệnh nhân
  • Mất kiểm soát đau
  • Thất bại trong đáp ứng điều trị
  • Không có khả năng nhận được sự hỗ trợ nhanh chóng
Sự kiện kích hoạt
  • Liều Naloxone được cho đột xuất
  • Yêu cầu tăng Oxy:
  • Bất kỳ thay đổi để đưa đến sử dụng Oxy 100% với mặt nạ không hít lại
  • Bất kỳ thay đổi trong FiO2 cung cấp ≥ 20%
  • Sau 3 lần không được trả lời từ nhóm y tế/ nhóm phẫu thuật đối với bất kỳ bệnh nhân nào trong ca làm việc
  • Thời gian đáp ứng từ nhóm y tế/ nhóm phẫu thuật trong một lần > 30 phút
  • Gia đình lo lắng về tình trạng của bệnh nhân
  • Bất kỳ tổn thương do ngã hoặc chấn thương
  • Điểm đau ≥ 4 điểm của thang điểm 10 hơn 30 phút sau khi đã cho giảm đau liều cao nhất
  • Buồn nôn/ nôn dai dẳng hơn 30 phút sau khi đã cho thuốc chống nôn liều cao nhất
  • Bất kỳ mạch bất thường mới được ghi nhận

Sự kiện kích hoạt có vai trò nhấn mạnh rằng một số biến cố hoặc can thiệp của bệnh nhân đòi hỏi đánh giá thêm. Sự kiện có thể là một dấu hiệu hoặc là kết quả của một vấn đề lớn hơn, vốn có thể là mối đe dọa đang diễn ra đối với an toàn người bệnh. Ví dụ, việc sử dụng Naloxone là một chỉ dấu cho thấy một hoặc nhiều hơn tác dụng không mong muốn của Opiate có thể đã xảy ra. Mặc dù Naloxone có thể tạm thời đảo ngược các tác dụng phụ này, chúng vẫn có thể tái phát do hiệu ứng đối kháng. Việc đánh giá tập trung bởi MET hoặc RRT có thể giúp tránh những hậu quả không mong muốn của các sự kiện như vậy.

Hệ thống bảng điểm

Việc dùng hệ thống tính điểm khi đánh giá bệnh nhân có nguy cơ có thể cung cấp một đánh giá phân loại về tình trạng lâm sàng, đồng thời giúp xác định mức độ đáp ứng cần thiết. Điểm tổng thể được tính dựa trên tổng số điểm gán cho các triệu chứng khác nhau, các dấu hiệu sinh tồn và kết quả xét nghiệm. Các điểm bổ sung được gán cho những kết quả có mức độ thay đổi đáng kể so với bình thường.

Một số hệ thống tính điểm cảnh báo sớm đã được xây dựng sẵn (NEWS, MEWS, PEWS, Modified NEWS COVID-19, ..), mặc dù không phải tất cả đều đã được xác nhận. Điểm cảnh báo sớm sửa đổi The Modified Early Warning Score (MEWS) đánh giá các dấu hiệu sinh tồn và tình trạng ý thức của người bệnh, và đã được xác nhận ở bệnh nhân nhập viện. Một điểm 5 hoặc lớn hơn có liên quan đến tăng tỷ lệ tử vongtăng tỷ lệ nhập vào ICU.

Các chương trình MET hoặc RRT ở từng cơ sở có thể lựa chọn xác định ngưỡng theo giá trị tuyệt đối hoặc theo xu hướng để kích hoạt chuyển sang cấp độ chăm sóc cao hơn hoặc huy động thêm nguồn lực lâm sàng. Tổng hợp và phân tích tổng điểm ở bệnh nhân đang tiếp nhận dịch vụ MET hoặc RRT có thể được sử dụng cho nỗ lực cải thiện chất lượng, ví dụ như đánh giá việc sắp xếp các lựa chọn, nhận biết nhóm sự kiện và sử dụng nguồn lực.

ĐỘI PHẢN ỨNG NHANH (RRT)

Kiến thức cần có của RRT

Nhận biết và đánh giá bệnh nhân nặng

Can thiệp

Các biện pháp can thiệp cần hướng tới mục tiêu ổn định nhanh cho bệnh nhân và phòng ngừa tình trạng xấu thêm nữa hoặc ngừng (tim phổi) hoàn toàn. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ba lý do phổ biến nhất để kích hoạt MET hoặc RRT là: thiếu oxy, hạ huyết ápthay đổi tình trạng ý thức. Các đội cần nhận diện các sự kiện kích hoạt chính trong phạm vi các khoa phòng của họ và xây dựng các phác đồ nhằm xử trí từng sự kiện một cách nhanh chóng.

Nguy kịch hô hấp là nguyên nhân sinh lý hàng đầu của việc kích hoạt MET hoặc RRT. Những lý do cho các thay đổi cấp tính có thể bao gồm tình trạng dịch, thuốc (ví dụ: ma túy), tiến triển của bệnh nền hoặc việc bệnh nhân không tuân thủ các liệu pháp điều trị oxy theo yêu cầu của bác sĩ. Can thiệp ban đầu là ổn định đường thở và áp dụng oxy dòng chảy cao để “giải cứu” nguy kịch và cải thiện độ bảo hòa oxy. Sau khi tình trạng bệnh nhân được cải thiện, nhóm có thể đánh giá các nguyên nhân có thể đảo ngược tiềm tàng.

Hạ huyết áp có thể liên quan đến trạng thái thể tích (bao gồm thể tích tổng thể và thể tích máu); các thuốc sử dụng, gồm ma túy và thuốc hạ huyết áp; và khả năng kèm theo nhiễm trùng huyết. Điều trị ban đầu là truyền dịch nhằm tăng huyết áp tâm thu và/hoặc đảo ngược ngay lập tức một nguyên nhân đã biết, ví dụ như ma túy. Cần cân nhắc sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm trong trường hợp nghi ngờ nhiễm trùng huyết nặng hoặc sốc nhiễm trùng.

Thay đổi tình trạng ý thức phần lớn thường liên quan đến thiếu oxy, hạ huyết áp hoặc hạ đường huyết. Các nguyên nhân này cần được đánh giá và điều trị trước tiên. Nếu thay đổi tình trạng ý thức không liên quan đến những vấn đề nói trên, cần đánh giá các nguyên nhân thần kinh hoặc do thuốc. Việc điều trị, bao gồm đánh giá bằng chụp cắt lớp tính (CT), phải được thực hiện theo định hướng.

Đội phản ứng nhanh cần thực hiện mọi nỗ lực phối hợp với bác sĩ chínhnhóm đi buồng (đa chuyên ngành) của bệnh nhân trong các quyết định liên quan đến xử trí và chăm sóc. Vai trò của một MET hoặc RRT không phải nhằm thay thế nhóm làm việc chính, mà là hành động cùng với và hỗ trợ cho họ tại giường bệnh trong tình huống khẩn cấp.

Giao tiếp

Trong bối cảnh bệnh viện phức tạp, việc dùng một công cụ giao tiếp có cấu trúc và ngôn ngữ thảo luận chuẩn hóa sẽ thúc đẩy giao tiếp cởi mở giữa các người chăm sóc, là điều thiết yếu cho việc đánh giá nhanh và quản lý bệnh nhân có nguy cơ. Việc tích hợp công cụ Tình huống (Situation), Bệnh sử (Background), Đánh giá (Assessment)Đề xuất(Recommendattion) (SBAR) vào ghi chép MET hoặc RRT có thể tạo lập sự trao đổi thông tin hiệu quả bằng cách tập hợp toàn bộ dữ liệu của bệnh nhân trong cùng một nơi cho mọi cuộc thảo luận nhằm mục đích theo dõi. Công cụ này đã được chứng minh có giá trị trong giao tiếp hiệu quả thông tin quan trọng. (Bảng A1-4)

Bảng A1-4 Công cụ giao tiếp SBAR
Tình huống (S) Điều gì đang xảy ra với bệnh nhân ?
Bệnh sử (B) Bệnh sử hoặc bối cảnh lâm sàng là gì ?
Đánh giá (A) Bạn nghĩ vấn đề là gì ?
Đề xuất(R)/ Can thiệp Bạn sẽ làm gì để đánh giá hoặc điều trị nó ?

Đào tạo

Một trong các mục tiêu trọng tâm của các đội MET và RRT là đào tạo. Bộ phận “phát hiện” của mô hình RRS chủ yếu dựa vào việc nhận biết sớm các dấu hiệu và triệu chứng của tình trạng xấu đi trên lâm sàng. Nhân viên cần được lên lịch diễn tập thường xuyên trong thực hiện dịch vụ và tham gia các sự kiện mô phỏng; những hoạt động này có hiệu quả trong việc duy trì năng lực nhận định bệnh nhân có nguy cơ.

Việc đăng công khai và thảo luận các tiêu chí kích hoạt có thể nâng cao việc sử dụng dịch vụ MET hoặc RRT và giảm các biến cố lâm sàng của bệnh nhân. Công tác đánh giá hậu kỳ về chất lượng, dựa trên dữ liệu tổng hợp từ hoạt động của đội phản ứng nhanh, cũng có thể củng cố đào tạo.

Đánh giá sau sự kiện đối với một biến cố bệnh nhân với toàn bộ nhân viên trong đơn vị sau khi có cuộc gọi MET hoặc RRT nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng tập thể của toàn bộ nhóm. Điều này có thể làm giảm khả năng xảy ra các vấn đề tiếp theo và tăng khả năng các dấu hiệu và triệu chứng của tình trạng xấu đi trên lâm sàng sẽ được nhận biết sớm nhất ở các bệnh nhân trong tương lai.

Các bài thuyết trình theo chủ đề của tuần, đánh giá tình huống MET hoặc RRT và các buổi thực hành SBAR là những ví dụ về hoạt động đào tạo có mục tiêu.

CÁC CHIẾN LƯỢC ĐỂ THÀNH CÔNG

Các cơ sở y tế sử dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau khi báo cáo kết quả triển khai RRS, do đó mức độ thành công của mô hình đội phản ứng nhanh có thể khác nhau. Một số chủ đề thường gặp liên quan đến thành công bao gồm:
  1. Đào tạo / Giáo dục: Các thành viên MET hoặc RRT và nhân viên điều dưỡng làm việc trực tiếp tại giường bệnh phải nắm được thời điểm cần kích hoạt đội phản ứng nhanh, cũng như cách thức tiến hành kích hoạt và phạm vi khả năng của nhóm. Các thành viên đội cần được đào tạo liên tục về kiểm soát các chỉ số thường gặp ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ, đồng thời nắm vững các chiến lược can thiệp và giao tiếp hiệu quả. Việc cố vấn cho điều dưỡng tại giường về kỹ năng đánh giá quan trọng và kỹ năng giao tiếp hiệu quả là một mục tiêu giáo dục chủ chốt của đội. Mô phỏng có độ chính xác cao trong trung tâm mô phỏng có giá trị, nhưng mô phỏng độ chính xác thấp với các tình huống cấp cứu y tế giả lập hoặc bài tập trên bàn cũng có thể đạt hiệu quả. Có thể tổ chức các buổi thuyết trình tình huống dựa trên kịch bản sử dụng bảng đen hoặc giấy trong mọi cơ sở lâm sàng.
  2. Thiết bị / Vật tư: Thiết bị và vật tư do đội phản ứng nhanh mang theo cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu của nhóm bệnh nhân mà đội phục vụ, tuy nhiên vẫn phải được chuẩn hóa để bảo đảm rằng các nguồn lực phù hợp luôn sẵn sàng mỗi khi đội đến giường bệnh sau từng cuộc gọi. Nếu sử dụng nhiều túi RRT, các vật dụng cần được sắp xếp theo từng túi nhằm thuận tiện cho việc lấy nhanh chóng tại giường. Không phù hợp khi đội mang theo toàn bộ vật dụng sẵn có trong ICU. Việc sử dụng thiết bị cần được xem xét như một phần của chương trình cải tiến chất lượng. Những vật dụng ít khi sử dụng nên được loại bỏ, trừ khi chúng có vai trò quan trọng trong xử trí các biến cố không thường xuyên nhưng có nguy cơ cao. Đội ứng phó nên cố gắng chỉ mang theo các thiết bị và vật tư thật sự cần thiết.
  3. Văn hóa trao quyền: Điều dưỡng cần được đào tạo để nhận biết các dấu hiệu xấu đi trên lâm sàng trước khi xảy ra biến cố, đồng thời tin tưởng vào kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn của bản thân. Điều dưỡng cần được trao quyền và được hỗ trợ bởi trưởng nhóm, để kích hoạt MET hoặc RRT theo các tiêu chí đã thiết lập. Không có hình thức xử phạt đối với việc kích hoạt MET hoặc RRT, đặc biệt khi các phát hiện không chỉ điểm rõ một biến cố lâm sàng sắp xảy ra. Những sự kiện như vậy có thể giúp xác định các lĩnh vực cần đào tạo trọng tâm liên quan đến việc phát hiện dấu hiệu xấu đi trên lâm sàng, hoặc xem xét các nguy cơ vốn có đối với nhóm bệnh nhân cụ thể.
  4. Đánh giá: Việc thu thập dữ liệu cần được tích hợp vào quy trình làm việc lâm sàng để hỗ trợ theo dõi các kết quả lâm sàng và dịch vụ. Báo cáo định kỳ, giám sát và đánh giá hoạt động cũng như kết quả của nhóm phản ứng nhanh giúp định hướng cải tiến nhanh chóng các quy trình của nhóm. Dữ liệu về mức độ hài lòng của bệnh nhân và gia đình giúp ưu tiên cho việc phát triển chương trình và phân bổ nguồn lực. Cần duy trì đối thoại liên tục giữa các bên liên quan nhằm xác định các cơ hội cải tiến.

TÓM TẮT

Bệnh nhân nhập viện có thể đối mặt với nguy cơ lâm sàng xấu đi một phần do tính phức tạp của hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Mục tiêu của mô hình RRS là phát hiện và xử trí kịp thời các dấu hiệu, triệu chứng của tình trạng xấu đi trên lâm sàng ở những bệnh nhân có nguy cơ thông qua các chiến lược phát hiện tại giường bệnh và huy động các nguồn lực phù hợp. Các yếu tố then chốt để triển khai thành công RRS gồm:
  1. Thành phần đội phù hợp.
  2. Tiêu chí kích hoạt dựa trên mối quan tâm của nhân viên tại giường bệnh, những thay đổi cấp tính trong sinh lý, hoặc việc sử dụng hệ thống tính điểm để xác định bệnh nhân có nguy cơ.
  3. Các biện pháp can thiệp nhằm ổn định bệnh nhân nhanh chóng.
  4. Các chiến lược giao tiếp hiệu quả, ví dụ SBAR.
  5. Đào tạo liên tục để tăng cường phát hiện và xử trí các biến cố lâm sàng tiềm ẩn.
  6. Sự sẵn có của máy móc theo dõi lâm sàng tiên tiến thích hợp, trang thiết bị và thuốc để thực hiện các hoạt động MET hoặc RRT.
  7. Đánh giá và hiệu chỉnh các quy trình, cũng như các nguyên nhân có thể gây rủi ro cho bệnh nhân.

Tài liệu tham khảo

  1. FCCS 2018