GIỚI THIỆU
Mục tiêu của chủ đề này:
- Nắm vững các nguyên tắc về tổn thương não nguyên phát, tổn thương não thứ phát và các cơ chế thường gặp gây tổn thương tế bào thần kinh.
- Vận dụng các khái niệm liên quan đến tăng áp lực nội sọ (ICP), cung cấp và tiêu thụ oxy não nhằm quản lý bệnh nhân bị tổn thương não.
- Học cách đánh giá lâm sàng và thiết lập chẩn đoán cho một bệnh nhân tổn thương não.
- Liệt kê các phương pháp điều trị thường dùng trong bối cảnh tổn thương não.
- Tìm hiểu các nguyên tắc quản lý chuyên biệt và các lựa chọn điều trị đối với một số tình trạng sinh lý bệnh được lựa chọn.
TỔNG QUAN
Ca lâm sàng
Khám ban đầu ghi nhận huyết áp 160/100 mmHg, nhịp tim đều 90 lần/phút, nhịp thở 14 lần/phút và nhiệt độ 37,2 o C (98,9 o F). Bệnh nhân tỉnh táo nhưng không thể nói hoặc làm theo mệnh lệnh. Khám thần kinh sọ cho thấy cả hai mắt chủ yếu liếc sang trái; liệt mặt dưới phải kèm mất nếp nhăn trán; giảm đáp ứng với kích thích đau ở mặt phải và giảm phản xạ hầu họng bên phải. Bệnh nhân bị liệt nửa người bên phải và không đáp ứng với kích thích đau tác động lên nửa người bên phải của cơ thể. Khám thực thể các cơ quan khác không ghi nhận bất thường.
Chụp cắt lớp vi tính (CT) sọ não ngay lập tức cho thấy một vùng nhỏ giảm đậm độ chất xám/chất trắng khác biệt ở thùy đảo vỏ não bên trái.
- Loại tổn thương não nguyên phát nào có khả năng hiện diện?
- Xét nghiệm chẩn đoán quan trọng tiếp theo là gì?
- Những biện pháp can thiệp và theo dõi nào nên được thực hiện ngoài viện chụp CT scan?
Đại cương
| Bảng 1: Cơ chế phổ biến của chấn thương não nguyên phát |
|---|
| Chấn thương: chấn động, đụng giập, tổn thương do lực cắt, vết thương thấu sọ và tổn thương sợi trục lan tỏa. |
| Thiếu máu cục bộ: toàn thể (ví dụ, ngừng tim gây giảm oxy máu) hoặc cục bộ (ví dụ, đột quỵ) |
| Viêm: viêm màng não, viêm não |
| Chèn ép: khối u, phù nào, tụ máu (ví dụ: ngoài màng cứng, dưới màng cứng hoặc trong nhu mô) |
| Chuyển hóa: bệnh não (ví dụ do gan, do rối loạn điện giải, do thuốc, độc tố, co giật kéo dài) |
Thông thường, rất ít biện pháp có thể đảo ngược các tác động tức thời và tiến triển thường xuyên của tổn thương não nguyên phát, vốn gây tổn thương thần kinh hoặc tử vong. Trong một số trường hợp, có thể khắc phục tác động tức thời của chấn thương bằng can thiệp phẫu thuật hoặc nội khoa kịp thời. Nhiều dạng tổn thương não tạo nên một vùng bị tổn thương tối đa liên quan đến khu vực mô xung quanh, hoặc vùng tranh tối tranh sáng; tại các vùng này, mô có thể còn sống và phục hồi nếu có thể giảm bớt tổn hại thêm. Cơ chế phổ biến của tổn thương thứ phát được trình bày trong Bảng 2. Các cơ chế gây tổn thương não thứ phát có thể tiến triển theo thời gian xuất phát từ các tổn thương nguyên phát khác. Chẳng hạn, phù nề sau chấn thương đầu thường tạo ra chèn ép não thứ phát; co thắt mạch sau xuất huyết dưới nhện (SAH) có thể gây thiếu máu cục bộ vùng và đột quỵ; hoặc chuyển dạng xuất huyết thứ phát sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ có thể dẫn đến chèn ép và thiếu máu cục bộ thêm nữa.
| Bảng 2. Các cơ chế của tổn thương não thứ phát |
|---|
|
CÁC NGUYÊN TẮC TRONG QUẢN LÝ TỔN THƯƠNG NÃO
Do tổn thương nguyên phát tại hệ thần kinh trung ương thường không thể đảo ngược, mục tiêu trọng tâm của điều trị là ngăn ngừa tổn thương thứ phát.
Tăng áp lực nội sọ
Áp lực nội sọ (ICP) phản ánh sự cân bằng của các cơ chế kiểm soát thể tích trong khoang sọ không thể giãn nở. Do não nằm trong hộp sọ cứng và màng cứng tương đối không mềm mại, đồng thời các mô và dịch trong khoang này không thể bị nén ép thêm, việc kiểm soát các thành phần nội sọ khác nhau là cần thiết để duy trì cân bằng nội môi não, điều hòa ICP và đảm bảo tưới máu não. Mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành phần (ngăn) phụ thuộc vào thể tích mỗi thành phần chiếm giữ. Sự gia tăng thể tích của một thành phần (ví dụ như não) phải đi kèm với việc giảm thể tích một thành phần khác (ví dụ như máu), còn được gọi là học thuyết Monro-Kellie. Khi cơ chế bù trừ quá tải, ICP sẽ tăng và tổn thương não có thể xảy ra.
Ngoài việc làm suy giảm tưới máu não, tăng ICP toàn bộ có thể kéo theo việc hình thành thoát vị não phản xạ xung quanh màng cứng (liềm và lều) ngay cả khi chênh lệch nhỏ áp suất xuất hiện trong khoang sọ, cùng với sự dịch chuyển các cấu trúc đường giữa. Các dịch chuyển này có thể gây tổn hại chức năng (ví dụ gây sững sờ hoặc hôn mê bằng cách làm gián đoạn hoạt động hệ lưới của thân não) hoặc dẫn đến chèn ép mạch máu và đột quỵ. Việc nhận diện vectơ dịch chuyển giữa các ngăn trong khoang sọ có thể giúp dự đoán những bệnh nhân có nguy cơ tổn thương thứ phát đe dọa tính mạng do bị chèn ép.
ICP tăng ảnh hưởng quan trọng đến việc cung cấp oxy cho não ở cả khu vực và toàn bộ, do ICP chèn ép động mạch và làm giảm lưu lượng máu não.
| Bảng 3. Các tình trạng có thể cần theo dõi áp lực nội sọ(ICP) xâm lấn |
|---|
|
Cung cấp cơ bản bị suy giảm (giảm tưới máu và giảm oxy)
Cơ chế tự điều hòa của não thể hiện một hệ thống sinh lý gồm lưu lượng máu chủ động và thụ động, trong đó sự giãn nở hoặc co thắt động mạch kiểm soát lưu lượng máu não(CBF) khu vực và liên kết nhu cầu oxy với việc cung cấp oxy. Vì vậy, CBF toàn bộ thường giữ ổn định trong một phạm vi áp lực động mạch trung bình (MAP) nhất định. Mất cơ chế tự điều hòa có thể xảy ra ở nhiều tình trạng bệnh lý, dẫn đến giãn mạch khu vực hoặc toàn bộ và hình thành phù nề, từ đó làm tăng thêm ICP. Việc tăng thể tích máu cũng ảnh hưởng đáng kể đến áp lực trong khoang sọ không giãn nở (dựa trên học thuyết Monro-Kellie).
Mặc dù có liên quan nhưng sự thay đổi của CPP không phải lúc nào cũng tạo ra biến đổi tương ứng của CBF.
CBF tương quan với áp lực tưới máu não (CPP) trong nhiều tình trạng bệnh lý mà ở đó khả năng tự điều hòa bị suy giảm. CPP được định nghĩa bằng MAP trừ đi ICP (áp lực cản trở lưu lượng máu):
CPP bình thường dao động từ 60 đến 100 mm Hg. Khi ICP tăng nhưng MAP không đổi, CPP sẽ giảm và CBF cũng sẽ giảm nếu quá trình tự điều chỉnh không diễn ra hiệu quả. Sự sụt giảm CBF làm tăng nguy cơ thiếu máu não cục bộ. Bác sĩ lâm sàng cần đặc biệt chú ý đến các thay đổi về trạng thái tâm thần, vì những biến đổi này có thể gợi ý tưới máu không đủ (bên cạnh nhiều nguyên nhân khác).
MAP phải được đo ở cùng vị trí với ICP để bảo đảm độ chính xác; thông thường thực hiện bằng cách đặt đầu dò đường động mạch ở tai về mức 0 và giữ nó ở cùng độ cao với đầu khi nâng đầu. Cần hiểu rằng mối tương quan giữa CBF và CPP giả định cung lượng tim(CO) bình thường. Nếu cung lượng tim bị suy giảm, đặc biệt khi kết hợp với thuốc co mạch mạnh (thuốc vận mạch), sẽ làm tách rời CPP và CBF.
Khuyến cáo đối với điều trị
Điều trị tổn thương não cấp tính dựa trên hai yếu tố sinh lý đã đề cập: giảm tình trạng tăng áp lực nội sọ(ICP) và tối ưu hóa cung cấp cơ bản(tưới máu não và oxy). Lưu đồ quản lý ICP sau tổn thương não là một công cụ quan trọng để tiêu chuẩn hóa chăm sóc. Quá trình thường bao gồm việc sử dụng các chất thẩm thấu, như mannitol và dịch ưu trương, nhằm tăng áp lực keo trong máu và hút(rút) dịch kẽ ra khỏi não, qua đó giảm “lượng nước trong não”. Các kỹ thuật quản lý tiếp theo bao gồm chuyển hướng CSF(dịch não tủy) thông qua một thiết bị đặt trong não thất ra bên ngoài, đặt cơ thể tư thế thẳng đứng để tối ưu hóa dẫn lưu CSF khỏi khoang sọ và ngăn ngừa các tình trạng làm tăng trương lực giao cảm, chẳng hạn như co giật.
Song song với các can thiệp làm giảm áp lực, cần triển khai các chiến lược nhằm giảm thiểu tổn thương não tập trung vào các biện pháp cân bằng nhu cầu oxy và cung cấp cơ bản (CBF và oxy).
Bảng 4tóm tắt các nguyên tắc và hướng dẫn điều trị được chấp nhận phổ biến để xử trí nhiều loại tổn thương não và tránh tổn thương não thứ phát. Lưu ý các điểm nhấn vào giảm thiểu tiêu thụ oxy và tối đa hóa cung cấp oxy.
| Bảng 4. Các nguyên tắc chung trong quản lý tổn thương não |
|---|
| Ngăn chặn các nhu cầu oxy bất thường |
|
| Thúc đẩy việc cung cấp oxy |
|
ĐÁNH GIÁ
| Bảng 5. Các thành phần của thang điểm hôn mê Glasgow | |
|---|---|
| Lâm sàng ở người lớn | Điểm |
| Mở mắt | |
| Tự nhiên | 4 |
| Đáp ứng với lời nói | 3 |
| Đáp ứng với kích thích đau | 2 |
| Không đáp ứng | 1 |
| Đáp ứng với lời nói | |
| Có định hướng và phù hợp | 5 |
| Mất phương hướng và lú lẫn | 4 |
| Từ ngữ không phù hợp | 3 |
| Âm thanh khó hiểu | 2 |
| Không đáp ứng | 1 |
| Đáp ứng với vận động tốt nhất | |
| Thực hiện theo y lệnh | 6 |
| Đáp ứng chính xác với kích thích đau | 5 |
| Đáp ứng không chính xác với kích thích đau | 4 |
| Đáp ứng kiểu co cứng (mất vỏ) | 3 |
| Đáp ứng kiểu duỗi cứng (mất não) | 2 |
| Không đáp ứng | 1 |
CÁC CHẨN ĐOÁN ĐẶC BIỆT VÀ CÁC CÂN NHẮC
Tổn thương não do chấn thương
Xuất huyết tiểu não kèm thay đổi ý thức là một cấp cứu ngoại khoa.
| Bảng 6. Những nguyên tắc chung trong điều trị tổn thương não do chấn thương |
|---|
|
Xen thêm: Chấn thương sọ não(TBI) và tăng áp lực nội sọ (ICP)
Xuất huyết trong não (ICH)
Xuất huyết dưới nhện (SAH)
| Bảng 7. Điều trị xuất huyết dưới nhện (SAH) |
|---|
|
Xem thêm: Xuất huyết dưới nhện (SAH) do vỡ túi phình động mạch.
Đột quỵ thiếu máu não cục bộ (nhồi máu não)
Khuyến cáo sử dụng thang đánh giá mức độ nghiêm trọng của đột quỵ, chẳng hạn như Thang đo Đột quỵ của Viện Y tế Quốc gia ( NIHSS ).
Tổn thương não do thiếu oxy
Bất thường về chuyển hóa, các trường hợp cấp cứu về nhiễm trùng và co giật
Trạng thái động kinh (Status epilepticus - SE)
Trạng thái động kinh (SE, Status epilepticus) là một cấp cứu thần kinh có nguy cơ đe dọa tính mạng, đòi hỏi được điều trị đồng thời chẩn đoán sớm và kịp thời.
SE được xác định là hoạt động co giật (seizure) liên tục kéo dài từ 5 phút trở lên hoặc là các cơn co giật tái diễn mà không trở về mức ban đầu.
Về phân loại, SE có thể là động kinh co giật (convulsive) hoặc động kinh không co giật (non-convulsive). Kế hoạch xử trí điều trị cần bao gồm việc nhận diện các nguyên nhân có thể gặp và phác đồ nhằm chấm dứt nhanh cơn co giật cơ giật.
Thuốc benzodiazepin đường tĩnh mạch được chỉ định khi cơn co giật bắt đầu kéo dài hoặc tái diễn. Trong cấp cứu SE, cần hội chẩn cấp cứu thần kinh và sử dụng lorazepam 0,1 mg/kg qua đường tĩnh mạch. Nếu đường tĩnh mạch không sẵn sàng ngay lập tức, midazolam tiêm bắp 0,15 mg/kg là lựa chọn thay thế.
Việc phối hợp phenytoin/fosphenytoin, valproate natri hoặc levetiracetam đã được chứng minh là có ích. Nếu cơn động kinh vẫn tiếp diễn, cần bảo đảm đường thở và bắt đầu điều trị nâng cao cho SE kháng trị. Các thuốc chống động kinh dùng trong SE kháng trị bao gồm propofol (liều nạp 3 mg/kg, sau đó truyền 1–5 mg/kg/giờ) hoặc midazolam (liều nạp 0,2 mg/kg, sau đó truyền 1–20 μg/kg/phút), kèm theo theo dõi điện não đồ (eeg) và chăm sóc tại ICU.
Các nguyên nhân có thể của Trạng thái động kinh
- Cấp tính: Nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương (CNS), rối loạn chuyển hóa, chấn thương sọ não (tbi), nhiễm trùng huyết, đột quỵ, thuốc, thiếu oxy, ngừng tim, bệnh não tăng huyết áp, viêm não tự miễn.
- Mãn tính: Cơn co giật bùng phát, khối u hệ thần kinh trung ương, cai rượu.
Hoạt động co giật sau tổn thương não cấp làm tăng nhu cầu oxy não và thường làm tăng ICP. Do đó, cần áp dụng liệu pháp thích hợp để chấm dứt hoạt động co giật càng sớm càng tốt.
Việc sử dụng thuốc chống động kinh qua đường tĩnh mạch, trong đó nhiều thuốc có tác dụng an thần mạnh, có thể làm suy giảm chức năng hô hấp và do đó cần kèm theo liệu pháp hỗ trợ thích hợp. Ngoài ra, có thể xảy ra hạ huyết áp; khi đó cần bù dịch truyền tĩnh mạch và/hoặc dùng thuốc vận mạch nhằm bảo tồn MAP (huyết áp động mạch trung bình) và CPP (áp lực tưới máu não).
Xem thêm: Trạng thái động kinh
Xem thêm: CERTAIN: Trạng thái động kinh.
Tổn thương tủy sống
Chấn thương cột sống cổ thường có thể nhận diện ở bệnh nhân còn tỉnh táo, bởi các bệnh nhân này thường biểu hiện đau cổ và yếu liệt. Khi tri giác suy giảm, cần nghi ngờ tổn thương tủy cổ ở những bệnh nhân có yếu cơ hô hấp, yếu chi mà không kèm yếu mặt, hạ huyết áp kèm nhịp tim chậm, cương dương vật ở bệnh nhân nam và khó duy trì nhiệt độ cơ thể bình thường.
Bệnh nhân có tổn thương dưới đoạn cổ thứ tư (C4) có thể vẫn hít thở đầy đủ bình thường khi tiếp cận (vào viện), nhưng có thể tiến triển thành suy hô hấp với tình trạng mất bù đột ngột; vì vậy không bao giờ được bỏ qua việc theo dõi sát.
Chấn thương cột sống thắt lưng không ảnh hưởng đến chi trên nhưng gây yếu chân; tùy theo mức độ tổn thương cột sống, bệnh nhân có thể xuất hiện hạ huyết áp kèm nhịp tim nhanh hoặc huyết áp dao động bất thường.
Xử trí ban đầu bao gồm hạn chế cử động cột sống (nẹp cổ [cervical collar], cán có cố định cột sống cổ [backboard]) trong khi hội chẩn phẫu thuật cột sống cấp cứu. Tuy nhiên, không nên tiếp tục để bệnh nhân nằm trên cán backboard sau khi đã đến khoa cấp cứu do nguy cơ phát triển loét do tỳ đè (loét do áp lực).
Một số bác sĩ lâm sàng khuyến cáo MAP > 85 mm Hg trong 7 ngày đầu sau chấn thương để cải thiện tưới máu đến vùng tủy sống bị tổn thương. Hiệp hội Bác sĩ phẫu thuật Thần kinh Hoa Kỳ/Đại Hội Bác sĩ Phẫu Thuật Yhần Kinh không khuyến cáo sử dụng methylprednisolone trong tổn thương tủy sống.
Có thể chụp CT cột sống mà không cần tháo các thiết bị cố định.
Các nguyên nhân thần kinh khác gây suy hô hấp cấp (yếu liệt cấp không do chấn thương)
Ở bệnh nhân có các tình trạng gây yếu cơ toàn thân như nhược cơ và hội chứng Guillain-Barré , có thể xuất hiện khó khăn trong việc duy trì thông thoáng đường hô hấp trên bên cạnh tình trạng yếu cơ hô hấp.
Trong nhóm bệnh nhân như vậy, đặt nội khí quản có thể được cân nhắc/đảm bảo để bảo vệ đường thở trước vì bắt buộc khi thể tích khí lưu thông giảm. Đo dung tích sống (VC, vital capacity) và áp lực âm hít vào tối đa (negative inspiratory pressure) là các chỉ số quan trọng.
Bệnh nhân tăng công thở, thiếu oxy máu, dung tích sống < 20 mL/kg hoặc áp lực âm hít vào tối đa <-30 cm H 2O nên được chuyển đến ICU và có thể sẽ cần đặt nội khí quản sớm. Việc đặt nội khí quản nên dựa trên tình trạng thở nhanh và khó chịu mà không cần chờ PaCO 2 tăng.
Thiếu oxy do xẹp phổi ở những bệnh nhân đã được bảo vệ đường thở đầy đủ có thể được điều trị bằng áp lực đường thở dương liên tục (CPAP) nếu vấn đề bảo vệ đường thở không phải là mối lo ngại (Xem thêm: fccs ).
Cần hội chẩn bác sĩ chuyên khoa thần kinh khi chẩn đoán được nghi ngờ, vì điều trị bằng globulin miễn dịch đường tĩnh mạch hoặc thay huyết tương có thể làm chậm hoặc ngăn chặn sự tiến triển của bệnh và đồng thời tăng tốc độ phục hồi. Trong hội chứng Guillain-Barré, rối loạn chức năng tự chủ thường gặp và có thể dẫn đến dao động lớn, nhanh chóng về huyết áp và nhịp tim; các biến đổi này cần được điều trị bằng đường tĩnh mạch.
Tiêu chí chết do thần kinh (chết não) và hiến tạng
Mặc dù đã có nỗ lực tối đa của đội ngũ (Team) nội khoa và phẫu thuật, các tổn thương nặng như nhồi máu não, thiếu oxy hoặc xuất huyết có thể dẫn đến mất tất cả các chức năng của não và thân não.
Đánh giá tình trạng chết não và hướng dẫn hiến tạng khác nhau đáng kể tùy thuộc vào quốc gia, tiểu bang và cơ sở y tế. Để tìm hiểu thêm thông tin về chết não và hiến tạng, xem Phụ lục FCCS - chết não và hiến tạng.
NHIỄM ĐIỂM CHÍNH TRONG HỖ TRỢ THẦN KINH
- Tổn thương não xảy ra do hậu quả của tổn thương não nguyên phát và tổn thương thứ phát; trong đó, ngăn ngừa tổn thương não thứ phát là mục tiêu quan trọng của nhóm chăm sóc ban đầu.
- Cơ chế quan trọng nhất gây tổn thương thứ phát ở bệnh nhân tổn thương não là hạ huyết áp và thiếu oxy.
- Tối ưu hóa cung cấp oxy đồng thời kiểm soát mức tiêu thụ oxy là nguyên tắc điều trị chung cho tất cả các loại tổn thương não.
- Các nguyên tắc và hướng dẫn quan trọng trong điều trị ban đầu áp dụng cho mọi dạng tổn thương não nguyên phát và giúp phòng ngừa các di chứng có hại thứ phát.
- Việc quản lý huyết áp phụ thuộc vào tổn thương não ban đầu; tuy nhiên, hạ huyết áp quá mức trong bất kỳ tổn thương não cấp tính nào có thể gây thiếu máu não cục bộ thứ phát.
- Tránh tăng thông khí dự phòng hoặc thường quy ở bệnh nhân tổn thương não. Nên dùng Mannitol khi có dấu hiệu thoát vị não hướng xuống dưới hoặc khi tình trạng suy thoái (xấu đi) thần kinh không phải do các yếu tố khác. Tăng thông khí chỉ có thể được khởi đầu một cách thận trọng như một biện pháp tạm thời.
- Đảm bảo thể tích bình thường bằng cách sử dụng nước muối sinh lý (NaCl 9‰) làm dịch truyền duy trì chính.
- Hoạt động co giật sau tổn thương não cấp tính cần được chấm dứt bằng một liều benzodiazepine đường tĩnh mạch, sau đó là một liều nạp qua đường tĩnh mạch của thuốc chống động kinh.
Tài liệu tham khảo
- Neurologic Support. FCCS 2021 7th Edition
- Jugular Bulb Oxygen Saturation. Chris NicksonJul 7, 2024. Litfl.com