Thai chậm phát triển trong tử cung

Post key: dab908fc-e627-5a10-9a72-a2f1ecce6d3c
Slug: thai-cham-phat-trien-trong-tu-cung
Excerpt: Thai chậm phát triển trong tử cung (FGR/IUGR) là tình trạng thai có trọng lượng và/hoặc tốc độ tăng trưởng thấp hơn so với tuổi thai; cần đo kích thước và ước lượng trọng lượng thai bằng siêu âm ở ít nhất 2 lần thăm khám cách nhau 1 tuần. Chẩn đoán dựa trên lâm sàng gợi ý (chiều cao tử cung nhỏ hơn tuổi thai, nguy cơ tiền sử, mẹ tăng cân ít, bệnh lý kèm theo) và siêu âm: các chỉ số sinh trắc như đường kính lưỡng đỉnh, chu vi bụng (thường có giá trị dự đoán cao), tốc độ tăng chu vi bụng khi tuổi thai không chắc chắn, ước lượng trọng lượng thai (sai số ±10%), tình trạng ối, và đặc biệt Doppler động mạch (rốn/tử cung) để đánh giá nguy cơ biến chứng; Doppler bất thường gợi ý bệnh lý tuần hoàn mẹ và nguy cơ tiền sản giật, thai chậm tiến triển nặng. Xử trí: hiện chưa có điều trị đặc hiệu; tập trung theo dõi sát, tư vấn và điều trị nguyên nhân liên quan (đặc biệt kiểm soát THA thai kỳ). Cân nhắc theo dõi Monitoring sản khoa từ 26 tuần, kết hợp Doppler theo ngưỡng bất thường để quyết định thời điểm đình chỉ thai nghén; sử dụng corticoid trưởng thành phổi cho tuổi thai 28–34 tuần theo phác đồ (bethamethasone hoặc dexamethasone). Với trường hợp có suy thai/ối giảm và yếu tố bất lợi có thể cần mổ lấy thai, phối hợp bác sĩ hồi sức sơ sinh. Phòng bệnh gồm tư vấn di truyền khi nghi bất thường NST/gen, cải thiện lối sống–dinh dưỡng, và dự phòng bằng aspirin liều thấp từ tuần 15 nếu FGR do nguyên nhân tuần hoàn người mẹ.
Recognized tags: chan-doan, dieu-tri, theo-doi, du-phong, thai-phu, bo-y-te

GIỚI THIỆU

Thai nhẹ cân được xác định khi thai đủ tháng và trọng lượng thai lúc sinh dưới 2500gr. Trong thực hành, thai chậm phát triển trong tử cung (FGR/IUGR) bao gồm cả tình trạng trọng lượng thai tại thời điểm thăm khám thấp hơn kỳ vọng và tình trạng chậm/giảm tốc độ tăng trưởng của thai. Để phân biệt thai thật sự chậm phát triển hoặc ngừng phát triển, cần đo kích thước và ước lượng trọng lượng thai ít nhất 2 lần ở hai lần thăm khám liên tiếp, cách nhau 01 tuần. Tùy theo tác giả và tùy theo nhóm nghiên cứu, giới hạn chẩn đoán thai chậm phát triển trong tử cung có thể khác nhau, thường nằm dưới bách phân vị thứ 10, thứ 5 hoặc thứ 3.

CHẨN ĐOÁN

Lâm sàng

Không có dấu hiệu lâm sàng đặc trưng. Một số biểu hiện gợi ý có thể gặp, bao gồm:
  • Tiền sử sinh con chậm phát triển trong tử cung.
  • Mẹ tăng cân ít hơn bình thường.
  • Chiều cao tử cung nhỏ hơn tuổi thai.
  • Phát hiện được một số nguyên nhân: HA cao, mẹ mắc bệnh lý mạn tính…

Siêu âm

Siêu âm là phương tiện giúp chẩn đoán hữu hiệu. Việc so sánh đối chiếu các kích thước thai nhi với kích thước chuẩn (các chỉ số sinh trắc thai được xây dựng dựa trên các nghiên cứu mô tả cắt ngang) nhằm đánh giá thai chậm phát triển trong tử cung có biểu hiện cân đối hay không cân đối.

Chỉ số: đường kính lưỡng đỉnh

  • 70% trường hợp thai chậm phát triển trong tử cung có kích thước đường kính lưỡng đỉnh nhỏ hơn so với tuổi thai.

Chỉ số: chu vi bụng

  • Chỉ số này thường được sử dụng nhiều nhất để dự đoán thai chậm phát triển trong tử cung.
  • Chu vi bụng có giá trị dự đoán thai chậm phát triển trong tử cung cao hơn các chỉ số đường kính lưỡng kính, chu vi đầu và chiều dài xương đùi.
  • Tốc độ tăng trưởng của đường kính/chu vi bụng có vai trò quan trọng trong chẩn đoán thai chậm phát triển trong tử cung ở một số trường hợp người mẹ không nhớ chính xác ngày kinh, không đánh giá được tuổi thai; nếu tốc độ tăng của chu vi bụng dưới 10 mm trong 15 ngày thì có thể nghĩ tới thai chậm phát triển trong tử cung.

Chỉ số: chiều dài xương đùi

  • Chỉ số này không có giá trị đặc biệt trong chẩn đoán thai chậm phát triển trong tử cung.

Tình trạng nước ối

  • 90% các trường hợp thai chậm phát triển trong tử cung có tình trạng thiểu ối; ngược lại nếu kèm đa ối thì phải nghĩ tới các nguyên nhân thai bất thường như rối loạn NST, bệnh lý gen..

Độ trưởng thành bánh rau

  • Không có nhiều giá trị trong chẩn đoán và dự báo thai chậm phát triển trong tử cung.

Ước lượng trọng lượng thai

  • Rất khó có một công thức cho phép tính chính xác trọng lượng thai nhi trong tử cung; do đó chỉ có thể ước đoán trọng lượng thai trong khoảng cộng trừ 10 % so với giá trị trung bình, đồng thời đối chiếu biểu đồ phát triển trọng lượng thai theo tuổi thai để chẩn đoán thai chậm phát triển trong tử cung.
  • Ngoài ra còn có một số chỉ số tham khảo khác như: chu vi đùi, tỷ lệ giữa chiều dài xương đùi và chu vi đùi, tỷ lệ giữa chu vi đầu và chu vi bụng…

Chỉ số Doppler động mạch

  • Doppler động mạch rốn và động mạch tử cung bình thường: ít nguy cơ biến chứng trong thời kỳ chu sinh, thường gặp trong thai chậm phát triển trong tử cung do nguyên nhân bất thường NST.
  • Doppler động mạch tử cung bất thường: là dấu hiệu bệnh lý hệ tuần hoàn của người mẹ; sản phụ có nguy cơ tiền sản giật và rối loạn tăng huyết áp trong những tháng cuối dẫn tới thai chậm phát triển trong tử cung, nguy cơ thai chết lưu trong tử cung. Theo dõi huyết áp định kỳ, số lượng tiểu cầu, chức năng gan thận nhằm phát hiện sớm nguy cơ cho mẹ và thai để có quyết định chấm dứt thai nghén ở thời điểm thích hợp.

XỬ TRÍ

  • Hiện nay chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu/ hữu hiệu.
  • Phải theo dõi sát và tư vấn kỹ lưỡng cho sản phụ và gia đình.
  • Điều trị THA đối với các trường hợp xác định thai chậm phát triển trong tử cung do mẹ rối loạn THA thai kỳ.
  • Chế độ nghỉ ngơi, hạn chế lao động nặng.
  • Cải thiện cung cấp oxy cho mẹ và truyền dung dịch đường tăng thể tích tuần hoàn được khuyến cáo cho một số trường hợp thai chậm phát triển trong tử cung nặng ở cuối quý 2 của thai kỳ; tuy nhiên phương pháp này cũng không cho kết quả khả quan.
  • Tìm nguyên nhân: nếu xác định thai bất thường nhiễm sắc thể, đa dị tật, nhiễm CMV thì nên đình chỉ thai nghén. Nếu chỉ có 1 dị tật đơn độc thì hội chẩn với các trung tâm chẩn đoán trước sinh, với bác sỹ phẫu thuật nhi để có hướng xử trí ngay sau khi sinh.
  • Dùng corticoid cho tuổi thai từ 28 đến hết 34 tuần: Bethamethasone 12mg, 2 liều tiêm bắp cách nhau 24h. Hoặc Dexamethasone 6mg/lần, tiêm bắp 4 lần cách nhau 12h.
  • Theo dõi liên tục nhịp tim thai bằng Monitoring sản khoa:
    • Theo dõi từ tuổi thai 26 tuần.
    • Đánh giá độ dao động của tim thai và biến đổi của nhịp tim thai.
  • Theo dõi không can thiệp khi: nhịp tim thai dao động kém, thai dưới 28 tuần, cân nặng dưới 800gr.
  • Đình chỉ thai nghén (ĐCTN) chỉ được đặt ra sau khi cân nhắc tuổi thai, tình trạng của người mẹ, tiền sử sản khoa và đặc biệt các bệnh lý kèm theo, kết hợp với một số biến đổi trên Monitoring. ĐCTN được cân nhắc trong các trường hợp sau:
    • Tuổi thai trên 31 tuần khi nhịp tim thai dao động kém, dao động độ không liên tục qua một số lần theo dõi, nhịp chậm đơn độc, kéo dài và lặp lại nhiều lần.
    • Tuổi thai từ 34 tuần khi Doppler động mạch rốn với dòng tâm trương bằng không và bất thường Doppler động mạch não, thai có biểu hiện ngừng tiến triển.
    • Tuổi thai từ 37 tuần khi có bất thường Doppler động mạch rốn, động mạch não và monitor.
Lưu ý:
Doppler động mạch rốn bình thường: kiểm tra lại sau 8 ngày và đánh giá sự phát triển thai 15 ngày một lần. Doppler động mạch rốn bất thường nhưng tốc độ dòng tâm trương chưa bằng không: theo dõi nhịp tim thai liên tục trên Monitoring 3 lần một tuần và đánh giá sự phát triển thai, kết hợp Doppler động mạch não.
  • Cách thức đẻ: trường hợp chuyển dạ tự nhiên hoặc đình chỉ thai nghén nếu không có chống chỉ định đẻ đường dưới thì theo dõi như một cuộc đẻ thường. Trường hợp suy thai, ối giảm, có thêm các yếu tố bất lợi khác như ngôi ngược, rau bám thấp… thì mổ lấy thai và luôn phải có bác sỹ hồi sức sơ sinh tham gia vào thời điểm lấy thai.

PHÒNG BỆNH

  • Tư vấn di truyền cho cặp vợ chồng nếu xác định nguyên nhân thai chậm phát triển trong tử cung do bất thường NST hoặc bệnh lý gen cho các lần mang thai tiếp theo. Từ bỏ một số thói quen xấu như nghiện hút, uống rượu, dùng chất kích thích trước khi mang thai. Cải thiện chế độ dinh dưỡng và điều kiện làm việc.
  • Trong trường hợp thai chậm phát triển trong tử cung do nguyên nhân tuần hoàn của người mẹ có thể điều trị dự phòng bằng Aspirin liều thấp từ tuần thứ 15 của thai kỳ.

Tài liệu tham khảo

  1. Quyết định số 315/QĐ-BYT ngày 29/01/2015 của Bộ Y tế ban hành tài liệu chuyên môn: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh sản phụ khoa