GIỚI THIỆU
Nếu không triển khai các biện pháp can thiệp phù hợp, btm có xu hướng tiến triển, dẫn đến suy giảm dần chức năng thận và tiến tới giai đoạn cuối. Tốc độ suy giảm chức năng thận tăng tương ứng với mức độ nặng của bệnh.
Việc can thiệp ở giai đoạn sớm có thể làm giảm tốc độ tiến triển đến giai đoạn cuối; can thiệp càng sớm thì hiệu quả càng cao, thậm chí có thể làm bệnh ngừng tiến triển. Một số trường hợp bệnh có thể thoái lui một phần.
CÁC BIẾN CHỨNG QUAN TRỌNG CỦA BTM
- Biến cố tim mạch là nhóm thường gặp nhất; tỷ lệ mắc tăng theo từng giai đoạn của btm. Trên lâm sàng thường gặp THA, suy tim, bệnh tim thiếu máu cục bộ, tai biến mạch não và bệnh mạch máu ngoại vi.
- Rối loạn khoáng xương và khoáng hóa xương có tỷ lệ mắc tăng theo mức độ/ giai đoạn btm. Các biểu hiện thường gồm loãng xương, yếu xương, canxi hóa ngoài xương và gãy xương bệnh lý.
- Thiếu máu: tỷ lệ mắc và mức độ thiếu máu tăng theo giai đoạn btm.
- Rối loạn điện giải và thăng bằng kiềm toan: thường ghi nhận toan máu; đặc biệt tăng Kali máu ở giai đoạn cuối.
- Nhiễm trùng.
- Suy thận, xơ thận, tử vong.
- Một số biến chứng khác, tùy thuộc vào căn nguyên gây btm.
PHÒNG NGỪA TIẾN TRIỂN BỆNH THẬN MẠN
Mục tiêu ưu tiên trong phòng ngừa tiến triển btm là kiểm soát các yếu tố nguy cơ tác động đến thận, bao gồm: có protein nước tiểu, THA, ĐTĐ, bệnh tim mạch, béo phì, tắc nghẽn đường tiết niệu, toan chuyển hóa, tổn thương thận cấp, dùng chất gây độc thận hoặc phải nhập viện do suy tim.
Tránh các thuốc độc thận
- Tránh sử dụng NSAID không cần thiết và các thuốc có khả năng gây suy thận khác (aminoglycosides, thuốc chống virus – acyclovir, cidofovir). Trước khi kê đơn cần tra cứu danh mục thuốc và thực hiện chỉnh liều theo chức năng thận.
-
Cần cân nhắc khi chỉ định và thận trọng khi sử dụng thuốc cản quang.
- Suy thận do thuốc cản quang được xác định khi có mất chức năng thận >30% hoặc tăng creatinin lên 0,5 mg/dl so với trước tiêm thuốc, xuất hiện trong vòng 3 ngày đầu sau dùng thuốc cản quang và không tìm thấy nguyên nhân khác. Tình huống này thường gặp ở người lớn tuổi, suy tim, đái tháo đường, bệnh thận mạn, đặc biệt khi MLCT ước tính <30ml/phút, trước đó đã có tổn thương thận cấp, mất nước, nhồi máu cơ tim, shock, liều thuốc cản quang cao, thiếu máu, tụt huyết áp, đồng thời sử dụng thuốc gây độc thận và lợi tiểu liều cao. Nếu có thể, nên ưu tiên sử dụng phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác. Trường hợp bắt buộc phải dùng thuốc cản quang, cần sử dụng liều thấp nhất có thể và tránh dùng liều lặp lại.
- Hạn chế tối đa các tình huống nguy cơ. Khuyến cáo dừng thuốc lợi tiểu ít nhất 4 – 6 ngày trước; đồng thời truyền dịch hoặc uống nhiều nước.
Thận trọng khi dùng thuốc ảnh hưởng đến huyết động cầu thận
- Một số thuốc có thể làm thay đổi huyết động cầu thận, gây giảm tưới máu thận và làm tăng nguy cơ độc thận của các thuốc khác.
- Đa số các thuốc này được chỉ định để bảo vệ tim và bảo vệ thận (ví dụ: SGLT2i, RASi, MRA, lợi tiểu…).
- Tuy nhiên, không nên phối hợp các thuốc này với liều cao hoặc sử dụng nhiều loại cùng lúc, vì có thể gây suy thận chức năng hoặc làm tăng nguy cơ độc thận của thuốc khác (mất nước đột ngột, tụt huyết áp, tăng Kali máu), đặc biệt khi phối hợp với NSAIDs.
Tài liệu tham khảo
- Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh thận mạn và một số bệnh lý thận. Số 2388/QĐ-BYT. 12/08/2024. Bộ Y Tế.