GIỚI THIỆU
Vắc xin Sởi – Quai bị – Rubella (MMR) sống giảm độc lực được tạo từ vi rút sởi chủng Edmonston–Zagreb, vi rút quai bị chủng L-Zagreb (L-Z) và vi rút rubella chủng Wistar RA 27/3; các chủng vi rút đều là dạng sống giảm độc lực. Vi rút sởi và rubella được nuôi cấy trên tế bào lưỡng bội người (HDC), còn vi rút quai bị được nuôi cấy trên nguyên bào sợi lấy từ trứng gà sạch SPF. Chế phẩm được sản xuất dạng bột đông khô và có nước hồi chỉnh kèm theo để hoàn nguyên ngay sau hồi chỉnh. Sản phẩm sau hoàn nguyên là dung dịch có màu trắng ánh vàng. Vắc xin đáp ứng các tiêu chuẩn của WHO khi được kiểm tra theo các phương pháp quy định trong tạp chí WHO TRS 840 (1994).
- Nhà sản xuất: Serum Institute of India Pvt.Ltd
- Nước sản xuất: Ấn Độ
- Thành phần chính: Sau khi hồi chỉnh với thể tích 0,5ml có chứa ít nhất 1000 CCID50 vi rút sởi, 5000 CCID50 vi rút quai bị và 1000 CCID50 vi rút rubella sống.
- Đóng gói: Lọ 1 liều và nước hồi chỉnh (0,5ml)
THÔNG TIN VẮC XIN
Đường dùng
- Tiêm dưới da.
- Vị trí tiêm: mặt trước bên đùi đối với trẻ nhỏ và bắp tay đối với trẻ lớn hơn.
Chỉ định - đối tượng
- Tạo miễn dịch chủ động phòng bệnh sởi, quai bị và rubella cho trẻ từ 12 tháng tuổi đến 10 tuổi.
- Mũi tiêm MMR thứ hai có thể thực hiện ở bất kỳ thời điểm nào trước 6 tuổi (độ tuổi đi học tiểu học thường từ 4-6 tuổi).
- Đối với trẻ trên 10 tuổi, thanh thiếu niên và người trưởng thành: khuyến cáo nhắc lại đối với sởi và rubella.
- Tiêm nhắc lại có thể làm chuyển dịch huyết thanh ở những người không có đáp ứng với mũi tiêm thứ nhất hoặc làm tăng cao hiệu giá kháng thể ở những người đã được tiêm nhưng hiệu giá kháng thể bị giảm.
- Ủy ban tư vấn về thực hành tiêm chủng (ACIP) khuyến cáo tiêm MMR mũi thứ nhất ở 12-15 tháng tuổi và mũi thứ 2 ở 4-6 tuổi.
- Tiêm chủng cho nữ giới thanh thiếu niên và người trưởng thành không mang thai có thể được xem xét khi có các cảnh báo chắc chắn (xem phần CHỐNG CHỈ ĐỊNH).
- Có thể tiêm MMR đồng thời với DTP, DT, TT, Td, BCG và vắcxin Polio (OPV và IPV), Haemophilus influenza tuýp b, vắcxin viêm gan B, vắc xin sốt vàng và bổ sung vitamin A.
Chống chỉ định
- Những người đang sử dụng corticosteroids, các thuốc ức chế miễn dịch khác hoặc đang xạ trị có thể không đạt được đáp ứng miễn dịch tối ưu.
- Không tiêm vắc xin cho người đang sốt hoặc đang mắc bệnh truyền nhiễm cấp tính; phụ nữ mang thai; người có bệnh bạch cầu, thiếu máu nghiêm trọng hoặc các bệnh nặng khác về máu; có tổn thương chức năng thận; bệnh tim mất bù; đang dùng gammaglobulin hoặc truyền máu; hoặc người dị ứng với các thành phần của vắc xin.
- Vắc xin có thể còn vết của neomycin: chống chỉ định tuyệt đối đối với người có phản ứng quá mẫn hoặc dạng quá mẫn với neomycin; người có tiền sử phản ứng quá mẫn hoặc dạng quá mẫn với trứng (phản ứng quá mẫn với trứng).
- Không chống chỉ định đối với các trường hợp sốt nhẹ, viêm đường hô hấp nhẹ, tiêu chảy hoặc các triệu chứng ốm nhẹ khác.
- Cần đặc biệt lưu ý tiêm phòng cho trẻ em suy dinh dưỡng.
- Không tiêm MMR cho phụ nữ có thai vì có thể tồn tại nguy cơ gây quái thai mặc dù chưa được chứng minh. Trường hợp vô tình tiêm MMR không được coi là một chỉ định để chấm dứt thai kỳ. Đối với vắc xin MR dùng cho người lớn: nếu có kế hoạch mang thai, cần cách ít nhất 1 tháng sau khi tiêm vắc xin MR. Không có báo cáo phản ứng phụ nghiêm trọng nào ở phụ nữ có thai vô tình được tiêm vắc xin có thành phần rubella trong giai đoạn sớm của thai kỳ.
Người bị suy giảm miễn dịch
- Có thể tiêm vắc xin Sởi, Quai bị và Rubella cho trẻ em nhiễm hoặc nghi ngờ nhiễm vi rút HIV.
- Chống chỉ định tiêm vắc xin cho những người có tổn thương nghiêm trọng hệ miễn dịch do bệnh bẩm sinh, nhiễm HIV tiến triển, bệnh bạch cầu hoặc lympho tiến triển, các bệnh ác tính, hoặc đang điều trị bằng steroid liều cao, thuốc alky hóa hoặc các chất chống chuyển hóa, hoặc ở những người xạ trị để điều trị suy giảm miễn dịch.
Phản ứng phụ
- Loại và tỷ lệ của một số ít phản ứng phụ nghiêm trọng nhìn chung không khác nhiều so với các phản ứng phụ đã được ghi nhận riêng rẽ đối với vắc xin sởi, quai bị và rubella.
- Trong vòng 24 tiếng sau tiêm, thành phần sởi có thể gây đau nhẹ và nhạy cảm tại vị trí tiêm. Ở phần lớn trường hợp, các triệu chứng sẽ tự khỏi sau 2 đến 3 ngày mà không cần can thiệp y tế. Sốt nhẹ có thể xuất hiện trong khoảng 7-12 ngày sau tiêm và kéo dài 1-2 ngày, chiếm tỷ lệ 5-15% người được tiêm. Phát ban gặp ở khoảng 2% người được tiêm, thường bắt đầu từ 7-10 ngày sau tiêm và kéo dài 2 ngày. Các phản ứng phụ nhẹ thường ít gặp hơn sau mũi thứ hai của vắc xin có chứa thành phần kháng nguyên sởi và có xu hướng chỉ xảy ra ở người chưa được bảo vệ từ mũi thứ nhất. Viêm não liên quan đến vắc xin sởi đã được báo cáo với ước tính khoảng một trên một triệu trường hợp; tuy nhiên, mối liên quan nhân quả giữa tiêm vắc xin và sự xuất hiện tình trạng này vẫn chưa được chứng minh.
- Thành phần quai bị có thể gây viêm tuyến mang tai và sốt nhẹ. Sốt động kinh và viêm tinh hoàn cũng có thể xảy ra. Tuy nhiên, sốt ở mức trung bình và viêm màng não vô khuẩn rất hiếm khi được báo cáo. Phản ứng viêm màng não liên quan vắc xin thường khởi phát trong khoảng dưới 1 tuần và không để lại di chứng. Khởi phát của viêm màng não vô khuẩn bị chậm, điều này có thể làm hạn chế khả năng phát hiện các trường hợp bệnh bằng các phương pháp giám sát thụ động. Các trường hợp viêm màng não liên quan vắc xin vô khuẩn thường được phát hiện trong khoảng 15-35 ngày sau tiêm.
- Thành phần rubella có thể gây các triệu chứng rõ rệt như đau khớp (25%) và viêm khớp (10%) ở nữ giới trong độ tuổi thanh thiếu niên và người trưởng thành; thời gian tồn tại thường từ vài ngày đến hai tuần. Ở trẻ em và nam giới, các phản ứng này rất hiếm gặp (0-3%). Các triệu chứng điển hình bắt đầu từ 1-3 tuần sau tiêm và kéo dài từ 1 ngày đến 2 tuần. Các phản ứng thường xảy ra ở những người không có miễn dịch, do đó tiêm vắc xin là quan trọng. Sốt nhẹ và ngứa, nổi hạch bạch huyết, đau cơ và cảm giác khó chịu thường được ghi nhận. Giảm lượng tiểu cầu rất hiếm, được báo cáo với tỷ lệ dưới 1 trường hợp/30.000 người tiêm. Phản ứng sốc phản vệ cũng hiếm khi gặp. Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy có những trường hợp phản ứng cá biệt riêng lẻ liên quan đến CNS. Có nhiều phản ứng khác nghiêm trọng hơn nhưng không trực tiếp liên quan đến việc tiêm chủng.
Tương tác thuốc
- Do nguy cơ liên quan đến việc vắc xin sống bất hoạt, không nên tiêm MMR trong vòng 6 tuần; nếu có thể, tránh tiêm trong vòng 3 tháng kể từ thời điểm sử dụng immunoglobulins hoặc sản phẩm máu khác có chứa immunoglobulins (máu hoặc huyết tương).
- Vì lý do tương tự, không sử dụng immunoglobulins trong vòng hai tuần sau khi tiêm vắc xin.
- Những người có phản ứng Tuberculin dương tính có thể chuyển sang âm tính sau khi tiêm vắc xin.
Bảo quản
- Cả vắc xin dạng bột đông khô và vắc xin đã được hồi chỉnh đều phải tránh ánh sáng.
- Bảo quản vắc xin ở nơi tối, nhiệt độ từ 2-8°C.
- Nước hồi chỉnh phải được bảo quản ở nơi mát, không để đông băng.
Dấu hiệu theo dõi nhiệt độ lọ vắc xin (VVM)
- VVM là thành phần trên nhãn của vắc xin Sởi, Quai bị và Rubella sống giảm động lực do Serum Institute of India Pvt.Ltd cung cấp. Trên nhãn lọ có chấm màu thể hiện VVM. VVM là vùng nhạy cảm với nhiệt độ và thời gian; nó phản ánh mức nhiệt tích lũy trên lọ vắc xin. VVM cảnh báo giới hạn cuối cùng có thể sử dụng lọ vắc xin trước khi vắc xin bị giảm chất lượng.
- Cách đọc VVM: quan sát hình vuông ở bên trong. Màu của hình vuông thay đổi dần dần. Khi màu hình vuông còn sáng hơn màu của hình tròn ngoài thì được phép sử dụng vắc xin. Ngay khi màu hình vuông chuyển sang cùng màu với hình tròn hoặc sẫm hơn màu hình tròn thì lọ vắc xin phải loại bỏ.
Cảnh báo quan trọng
- Đảm bảo tiêm vắc xin đúng đường dưới da. Trong một số trường hợp có thể xảy ra sốc phản vệ sau khi tiêm, vì vậy phải chuẩn bị sẵn adrenaline theo tỉ lệ 1:1000 để tiêm dưới da hoặc tiêm bắp. Xử trí sốc nặng: tiêm 1 mũi adrenaline liều 0,1-0,5mg (0,1-0,5ml dung dịch 1:1000) tiêm bắp hoặc tiêm dưới da. Liều đơn không vượt quá 1 mg (1ml). Đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, liều adrenaline khuyến cáo là 0,01 mg/kg (0,01 ml/kg dung dịch 1:1000). Liều đơn không vượt quá 0,5 mg (0,5 ml). Việc này giúp ngăn chặn phản ứng/sốc phản vệ một cách hiệu quả.
- Nguyên tắc chính trong xử trí và điều trị phản ứng quá mẫn nghiêm trọng là sử dụng adrenaline; đây là biện pháp có thể cứu sống người bệnh trong nhiều trường hợp. Nên sử dụng adrenaline ngay đầu tiên khi nghi ngờ phản ứng quá mẫn xảy ra. Như đối với tất cả các loại vắc xin, người được tiêm cần được theo dõi ít nhất 30 phút sau tiêm. Chuẩn bị sẵn hydrocortisone và thuốc kháng histamin cùng với các biện pháp hỗ trợ khác, bao gồm thở oxy.
PHÁC ĐỒ VÀ LỊCH TIÊM
Tạo miễn dịch chủ động phòng bệnh sởi, quai bị và rubella cho trẻ em từ 12 tháng tuổi đến 10 tuổi. Ủy ban tư vấn về thực hành tiêm chủng (ACIP) khuyến cáo tiêm liều MMR đầu tiên khi trẻ 12-15 tháng tuổi và tiêm MMR liều thứ hai khi trẻ được 4-6 tuổi (do nguy cơ tái nhiễm tăng cao khi trẻ bắt đầu vào tiểu học).
- Mũi 1: khi trẻ 12-15 tháng tuổi.
- Mũi 2: khi trẻ được 4-6 tuổi.
Cách dùng
- Vắc xin phải được hoàn nguyên bằng nước hồi chỉnh đi kèm (nước cất pha tiêm vô trùng), sử dụng bơm và kim tiêm vô trùng.
- Lắc nhẹ để hòa tan viên đông khô. Sau khi pha phải tiêm ngay.
- Một liều đơn 0,5ml được tiêm theo đường tiêm dưới da sâu ở mặt trước bên đùi đối với trẻ nhỏ và bắp tay đối với trẻ lớn hơn.
- Nếu chưa sử dụng ngay, vắc xin đã pha cần được bảo quản trong chỗ tối với nhiệt độ 2°C-8°C trong thời gian dài nhất là 6 giờ.
- Lọ vắc xin đã mở (trong vòng 6 giờ kể từ khi pha) nếu còn thừa phải loại bỏ; dấu hiệu theo dõi nhiệt độ lọ (VVM- xem chi tiết) cần được thực hiện, đồng thời thực hiện bóc lọ ngay khi pha.
- Nước hồi chỉnh kèm theo được điều chế đặc biệt cho loại vắc xin này. Chỉ sử dụng đúng nước hồi chỉnh được cung cấp kèm theo để pha vắc xin. Không dùng nước hồi chỉnh của vắc xin khác hoặc của vắc xin MMR do nhà sản xuất khác. Việc sử dụng sai nước hồi chỉnh có thể làm hỏng vắc xin và/hoặc gây các phản ứng nghiêm trọng cho người sử dụng. Nước hồi chỉnh không được để đông băng nhưng phải được giữ ở điều kiện mát.
Tài liệu tham khảo
- VẮCXIN SỞI, QUAI BỊ VÀ RUBELLA (MMR) SỐNG GIẢM ĐỘC LỰC. Nhà phân phối VABIOTECH
- Vắc xin MMR (Ấn Độ) phòng bệnh Sởi – quai bị – rubella. VNVC