Dự phòng đột quỵ

Post key: dc4a3ac4-ad44-5b7d-92c5-0e7167381039
Slug: du-phong-dot-quy
Excerpt: Theo Hội Đột quỵ Hoa Kỳ (ASA), người dân cần nhận biết sớm dấu hiệu đột quỵ và gọi cấp cứu ngay khi xuất hiện đột ngột một trong các dấu hiệu: tê hoặc yếu mặt/tay/chân, đặc biệt một bên cơ thể; rối loạn ý thức; khó nói hoặc không hiểu lời nói; mất thị lực một hoặc hai mắt; khó đi kèm chóng mặt, mất thăng bằng/ thất điều; đau đầu dữ dội không rõ nguyên nhân. ASA đưa ra thuật ngữ FAST: F (face) méo/liệt mặt; A (arm) yếu tay; S (speech) nói khó; T (time) “thời gian” là yếu tố tối quan trọng—khi có 3 dấu hiệu trên cần gọi cấp cứu ngay. Về dự phòng: - Dự phòng tiên phát ở người chưa bị đột quỵ gồm thay đổi lối sống (cai thuốc lá, tập thể dục), kiểm soát rối loạn lipid máu (statin theo chỉ định), và cân nhắc dùng thuốc kháng kết tập tiểu cầu trong nhóm nguy cơ phù hợp; giá trị aspirin cho dự phòng tiên phát còn không chắc chắn và không khuyến cáo cho nguy cơ thấp (chỉ cân nhắc khi nguy cơ tim mạch 10 năm đủ cao), có thể có lợi ở phụ nữ liều thấp. - Dự phòng thứ phát ở bệnh nhân đã đột quỵ hoặc TIA: đánh giá và kiểm soát các yếu tố nguy cơ như đái tháo đường, béo phì, hội chứng ngưng thở khi ngủ; theo dõi kéo dài để phát hiện rung nhĩ ở các trường hợp chưa rõ nguyên nhân. Với rung nhĩ không do bệnh van tim: dùng thuốc chống đông kháng vitamin K hoặc ưu tiên các thuốc chống đông đường uống mới (dabigatran, apixaban, rivaroxaban) khi có điều kiện. Không có chỉ định đóng lỗ bầu dục để phòng biến cố ở người không có huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới. Không khuyến cáo dùng niacin hoặc fibrat nhằm tăng HDL-C. Điều trị kháng tiểu cầu kép (aspirin + clopidogrel) có thể được dùng trong một số bệnh cảnh (đột quỵ thiếu máu cục bộ cấp tính hoặc TIA) nhằm giảm tái phát và biến cố mạch máu, không làm tăng đáng kể chảy máu nặng. - Đối với hẹp động mạch cảnh không triệu chứng: lựa chọn điều trị nội khoa hay can thiệp/phẫu thuật cần cá thể hóa theo bệnh lý đi kèm, tuổi thọ và mong muốn bệnh nhân. Tài liệu tham khảo: Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí đột quỵ não. Số 5331/QĐ-BYT, 23/12/2020. Bộ Y tế.
Recognized tags: du-phong, bo-y-te

GIỚI THIỆU

Hội Đột quỵ Hoa Kỳ (ASA) khuyến cáo cộng đồng chủ động nhận biết sớm các dấu hiệu gợi ý đột quỵ, đồng thời gọi cấp cứu ngay khi các biểu hiện xuất hiện đột ngột, bao gồm một trong các dấu hiệu sau:
  • Tê hoặc yếu mặt, tay, chân, đặc biệt khi khu trú ở một bên cơ thể.
  • Rối loạn ý thức.
  • Khó nói hoặc không hiểu lời nói.
  • Mất thị lực ở một hoặc cả hai mắt.
  • Khó đi lại kèm chóng mặt, mất thăng bằng hoặc thất điều.
  • Đau đầu dữ dội không rõ nguyên nhân.
Năm 2013, ASA đề xuất thuật ngữ FAST nhằm giúp người dân ghi nhớ các dấu hiệu cảnh báo đột quỵ.
FAST
  • F (face): liệt/méo hoặc lệch mặt.
  • A (arm): tay cử động khó khăn (yếu tay).
  • S (speech): nói khó.
  • T (time): khi xuất hiện đồng thời 3 dấu hiệu nêu trên, yếu tố thời gian (time) là tối quan trọng; cần gọi ngay cấp cứu.

DỰ PHÒNG

Dự phòng tiên phát

Dự phòng tiên phát áp dụng cho những cá thể chưa từng bị đột quỵ, bao gồm các biện pháp:
  • Dùng thuốc kháng kết tập tiểu cầu.
  • Điều trị rối loạn lipid máu bằng statin.
  • Cai thuốc lá.
  • Tập thể dục.
Hướng dẫn AHA/ASA năm 2011 về dự phòng đột quỵ tiên phát nhấn mạnh vai trò của can thiệp thay đổi lối sống đối với các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được; người theo lối sống lành mạnh có nguy cơ đột quỵ thấp hơn 80% so với nhóm không thực hiện lối sống nói trên.
Nhìn chung, giá trị của aspirin trong dự phòng tiên phát còn không chắc chắn, do đó không khuyến cáo cho những người có nguy cơ thấp và chỉ cân nhắc sử dụng khi nguy cơ mắc các biến cố tim mạch trong vòng 10 năm đạt ít nhất 6 - 10%.
Xem thêm: SCORE 2 và SCORE 2-OP cho người Việt Nam dự đoán nguy cơ tim mạch 10 năm.
Tuy nhiên, aspirin liều thấp có thể mang lại lợi ích trong dự phòng đột quỵ cho phụ nữ. Một thử nghiệm ngẫu nhiên, đối chứng giả dược đã chứng minh rằng aspirin 100 mg mỗi ngày trong 24 giúp giảm 24% nguy cơ đột quỵ não do thiếu máu và không làm tăng đáng kể nguy cơ đột quỵ do xuất huyết.

Dự phòng thứ phát

  • Người bệnh đã bị đột quỵ hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) cần được kiểm tra và kiểm soát các yếu tố nguy cơ như tiểu đường và béo phì, đồng thời lưu ý hội chứng ngưng thở khi ngủ.
  • Người bệnh đột quỵ không rõ nguyên nhân cần theo dõi kéo dài để xác định sự hiện diện của rung nhĩ.
  • Đối với bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim: chỉ định thuốc chống đông kháng vitamin K; nếu có điều kiện, ưu tiên thay thế bằng các thuốc chống đông đường uống mới như dabigatran, apixaban, rivaroxaban.
  • Không cần thiết phải đóng lỗ bầu dục ở những người không có huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới để đề phòng tắc mạch nghịch thường.
  • Không có bằng chứng cho thấy niacin hoặc fibrat làm tăng HDL-C (HDL-C); do đó không khuyến cáo sử dụng.
  • Điều trị kháng tiểu cầu kép (aspirin và clopidogrel) an toàn và hiệu quả trong việc giảm tái phát đột quỵ cũng như giảm các biến cố mạch máu khác (cơn thiếu máu não thoáng qua [TIA], hội chứng mạch vành cấp, nhồi máu cơ tim) ở bệnh nhân bị đột quỵ thiếu máu cục bộ cấp tính hoặc TIA và không làm tăng có ý nghĩa biến cố chảy máu nặng.
  • Với người bệnh có nguy cơ đột quỵ do hẹp động mạch cảnh không có triệu chứng: tùy thuộc bệnh lý đi kèm, tuổi thọ và mong muốn của từng người bệnh để quyết định điều trị nội khoa đơn thuần hay tái thông động mạch cảnh bằng can thiệp hoặc phẫu thuật.

Tài liệu tham khảo

  1. Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí đột quỵ não. Số 5331/QĐ-BYT, 23/12/2020. Bộ Y Tế.