Bệnh thận mạn: tổng quan về nguyên nhân, chẩn đoán và phân tầng nguy cơ

Post key: e5264237-d6b8-5d44-b660-cebffc878a36
Slug: benh-than-man-tong-quan-ve-nguyen-nhan-chan-doan-va-phan-tang-nguy-co
Excerpt: Bệnh thận mạn (BTM) là các bất thường về cấu trúc hoặc chức năng thận kéo dài ≥ 3 tháng. Bài viết tổng quan nguyên nhân (theo vị trí tổn thương: bệnh mạch thận, cầu thận, ống-kẽ thận, bệnh lý tiết niệu), các yếu tố nguy cơ và các yếu tố thúc đẩy làm bệnh tiến triển nhanh (nhạy cảm với tổn thương thận, khởi động tổn thương trực tiếp, và các yếu tố làm nặng tổn thương). Phần chẩn đoán nêu: BTM giai đoạn sớm thường không có triệu chứng; cần sàng lọc/tầm soát ở nhóm nguy cơ dựa trên mức lọc cầu thận ước tính (MLCT/eGFR) và albumin/protein niệu (UACR/UPCR). Trình bày quy trình đánh giá tổn thương mô thận, đánh giá chức năng thận (ước tính MLCT từ creatinine, khi cần có thể dùng cystatin C; lưu ý các công thức CKD-EPI/Cockcroft–Gault), tiêu chuẩn chẩn đoán BTM và yêu cầu xác nhận tính mạn tính (không dựa vào bất thường đơn lẻ). Bài viết cũng mô tả phân giai đoạn và phân tầng nguy cơ (theo KDIGO 2012/2014 và KDIGO 2024), từ phân loại MLCT và albumin niệu đến tần suất theo dõi, kèm chẩn đoán phân biệt một số tình trạng có thể nhầm với BTM. Tài liệu tham khảo: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh thận mạn và một số bệnh lý thận, Số 2388/QĐ-BYT, 12/08/2024 – Bộ Y Tế.
Recognized tags: chan-doan, xet-nghiem, theo-doi, tam-soat, bo-y-te

GIỚI THIỆU

Bệnh thận mạn (BTM) được hiểu là tình trạng bất thường về cấu trúc hoặc chức năng thận kéo dài trên 3 tháng, xuất phát từ bất kỳ nguyên nhân nào, và gây ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh.

NGUYÊN NHÂN

Nguyên nhân gây bệnh thận mạn

Phân nhóm nguyên nhân bệnh thận mạn theo vị trí tổn thương
Các nhóm nguyên nhân bệnh thận mạn
Tổn thương mạch thận Bệnh lý vi mạch (microangiopathy diseases)
Bệnh lý mạch máu lớn (macroangiopathy diseases)
Tổn thương cầu thận Nguyên phát
Thứ phát
Tổn thương ống-kẽ thận Nguyên phát
Thứ phát
Tổn thương hệ tiết niệu Nhiễm trùng đường tiết niệu
Tắc nghẽn đường tiết niệu, trào ngược bàng quang–niệu quản
Sỏi tiết niệu
Dị dạng đường tiết niệu

Ngoài ra, bệnh lý thận trong bối cảnh ung thư được tách thành một chuyên ngành riêng, bao gồm người bệnh thận mắc ung thư hoặc người ung thư kèm theo bệnh thận. Tổn thương thận cấp (TTTC) và BTM làm tăng di chứng và tử vong ở tất cả bệnh nhân, kể cả người đã bị ung thư; đồng thời, người ung thư có các rối loạn đặc trưng của ung thư đi kèm biểu hiện bệnh thận và tần suất BTM cũng như ung thư cao, tuổi thọ người bệnh ngày càng được cải thiện. Vì vậy, cần sự tham gia của bác sĩ chuyên khoa Thận trong nhóm chăm sóc người bệnh ung thư. Tổn thương thận liên quan đến ung thư thường mang tính chất hỗn hợp thông qua nhiều cơ chế khác nhau.
Một số bệnh lý thận do ung thư và thuốc điều trị ung thư
Bệnh lý Hay gặp Ít gặp
Leukemia TTTC do nhiễm khuẩn, giảm thể tích, ngộ độc thuốc Bệnh thâm nhiễm, viêm cầu thận, TTTC do hội chứng tiêu khối u
Đa u tủy xương Bệnh thận do đa u tủy xương. TTTC do giảm thể tích Amyloidosis, bệnh lắng đọng chuỗi nhẹ (LCDD), hội chứng Fanconi, TTTC do tăng canxi máu, VCT màng tăng sinh type 1
Lymphoma TTTC do hội chứng tiêu khối u và giảm thể tích Bệnh đường tiết niệu do tắc nghẽn, bệnh lý thâm nhiễm, bệnh thận tổn thương tối thiểu (Hodgkin), VCT màng tăng sinh type 1 (u lympho non-Hodgkin)
Ung thư tế bào thận Ngộ độc thuốc ức chế yếu tố tăng trưởng nội mạch (AntiVEGF) Bệnh đường tiết niệu do tắc nghẽn, bệnh thận màng
Ung thư phổi, đầu cổ Ngộ độc Platinum SIADH, viêm cầu thận màng
Ung thư đường tiết niệu sinh dục Bệnh đường tiết niệu do tắc nghẽn Ngộ độc Platinum
Bệnh thận do thuốc thường dùng trong điều trị ung thư Tổn thương thận cấp, bệnh ống thận, BTM do hóa trị. (VD: cisplatin, ifosfamide, methotrexate); ngộ độc các liệu pháp điều trị đích (gồm protein niệu, TMA, tăng huyết áp) Viêm thận do xạ trị, TMA, viêm cầu thận
Bệnh thận do tắc nghẽn Các ung thư đường tiết niệu, sinh dục Lymphoma
TTTC: tổn thương thận cấp; LCDD: light chain deposit disease – bệnh lắng đọng chuỗi nhẹ; VCT: viêm cầu thận; TMA: thrombotic microangiopathy – bệnh vi mạch huyết khối; SIADH: Syndrome of inappropriate antidiuretic hormone secretion – Hội chứng tăng tiết hormon chống bài niệu ADH không phù hợp

Các yếu tố nguy cơ gây bệnh thận mạn hoặc đẩy nhanh tiến triển bệnh thận mạn

Các yếu tố làm tăng nhạy cảm của thận

  • Tuổi cao (thường trên 60 tuổi)
  • Tiền sử gia đình có bệnh thận giai đoạn cuối (MLCT <15ml/ph/1,73m 2 ) hoặc bệnh thận di truyền (đặc biệt ở những người có quan hệ huyết thống thế hệ 1)
  • Đái tháo đường
  • Tăng huyết áp
  • Gout
  • Có tiền sử đã bị tổn thương thận cấp
  • Bệnh tim mạch (bệnh tim thiếu máu cục bộ, suy tim mạn tính, bệnh mạch ngoại vi hoặc bệnh mạch não) hoặc có các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch (hút thuốc, rối loạn lipid máu, hội chứng chuyển hóa)
  • Giảm khối lượng mô thận
  • Nhẹ cân khi sinh/sinh non
  • Có 1 thận chức năng duy nhất
  • Tiền sản giật/sản giật
  • Béo phì (BMI ≥ 25 kg/m 2 )
  • Điều kiện kinh tế–xã hội, môi trường, quần thể có các biến thể gen làm tăng nguy cơ mắc bệnh cao, chủng tộc châu Á

Các yếu tố khởi động tổn thương thận trực tiếp

  • Suy thận cấp/ Tổn thương thận cấp
  • Có bệnh lý tắc nghẽn đường tiết niệu hoặc thay đổi cấu trúc đường tiết niệu, sỏi thận tái phát hoặc phì đại tuyến tiền liệt
  • Có nhiễm trùng mạn tính hoặc nhiễm trùng hệ thống (bao gồm viêm gan virus B, C, HIV, SARS-CoV-2)
  • Bệnh đa hệ thống, bệnh tự miễn hoặc bệnh ác tính có nguy cơ gây tổn thương thận tiềm tàng hoặc thường đi kèm BTM, ví dụ lupus đỏ hệ thống
  • Sử dụng thuốc hoặc tiếp xúc cơ chất có thể gây ảnh hưởng xấu đến chức năng thận hoặc gây độc thận; ví dụ thuốc ức chế calcineurin (ciclosporin hay tacrolimus), hợp chất chứa nguyên tố lithium hoặc thuốc chống viêm không steroid (sử dụng dài hạn), thuốc kháng virus, các kim loại như chì, thủy ngân, thuốc trừ sâu…, và tình trạng chiếu tia
  • Tăng huyết áp
  • Đái tháo đường
  • Được phát hiện tình cờ có đái máu hoặc protein trong nước tiểu

Các yếu tố thúc đẩy BTM tiến triển (làm nặng tổn thương và tăng tốc quá trình suy giảm chức năng thận)

  • Protein niệu dai dẳng
  • Tăng huyết áp kiểm soát kém
  • Đái tháo đường kiểm soát kém
  • Bệnh lý tim mạch đi kèm hút thuốc
  • Rối loạn lipid máu
  • Điều trị thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) kéo dài
  • Tắc nghẽn đường tiết niệu
  • Nhiễm toan chuyển hóa
  • Tổn thương thận cấp và phơi nhiễm chất độc cho thận
  • Nhập viện vì suy tim
  • Người châu Á
  • Béo phì

CHẨN ĐOÁN

Lâm sàng

  • Ở giai đoạn sớm, BTM thường không biểu hiện triệu chứng lâm sàng; bệnh chủ yếu được nhận biết thông qua các xét nghiệm cận lâm sàng. Một số trường hợp có thể xuất hiện triệu chứng do các tình trạng bệnh lý hoặc yếu tố nguy cơ đã biết (ví dụ đái tháo đường, tăng huyết áp) hoặc do chính bệnh lý nguyên nhân gây BTM.
  • Triệu chứng lâm sàng thường xuất hiện ở giai đoạn muộn. Việc dựa vào các biểu hiện lâm sàng khi đã có triệu chứng có thể dẫn đến chẩn đoán quá muộn, lúc đó không còn khả năng bảo tồn hoặc đã có nhiều biến chứng, khó can thiệp hiệu quả hoặc phải điều trị thay thế; đồng thời làm tăng chi phí điều trị, tăng tỷ lệ biến chứng và tử vong.

Quy trình sàng lọc, tầm soát bệnh thận mạn

Các đối tượng cần tầm soát BTM chủ động và tần suất tầm soát

  • Các đối tượng có yếu tố nguy cơ nêu trong mục nguyên nhân và yếu tố thúc đẩy (ở trên) cần được ưu tiên tầm soát BTM chủ động bằng cách xác định MLCT dựa vào creatinine máu (hoặc creatinine và cystatin C máu nếu thực hiện đồng thời cả 2 xét nghiệm khi có điều kiện) và xét nghiệm UACR nước tiểu 1 năm 1 lần.
  • Người trưởng thành, người trẻ tuổi và trẻ em sử dụng các thuốc có thể làm suy giảm chức năng thận (ví dụ thuốc ức chế calcineurin (CNI), gồm ciclosporin hay tacrolimus; hợp chất chứa nguyên tố lithium; hoặc thuốc NSAID (sử dụng dài hạn)) cần được theo dõi MLCT tối thiểu hàng năm.
  • Tất cả các đối tượng (người trưởng thành, người trẻ tuổi, trẻ em) có tổn thương thận cấp cần theo dõi MLCT và UACR tối thiểu hàng năm trong ít nhất 3 năm tiếp theo ngay cả khi MLCT đã trở về chỉ số ban đầu để phát hiện sự xuất hiện hoặc tiến triển BTM. Các trường hợp tổn thương thận cấp độ 3 cần theo dõi lâu hơn nữa.
  • Cần lưu ý rằng tuổi, giới tính, chủng tộc hoặc tình trạng thừa cân nhưng không kèm hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường, tăng huyết áp không được xem là yếu tố nguy cơ để chỉ định sàng lọc BTM chủ động.

Đánh giá tổn thương hoặc hư hỏng mô thận

Ưu tiên sử dụng chỉ số albumin niệu; hoặc từ mẫu nước tiểu 24 giờ; hoặc tính tỷ số albumin/creatinin nước tiểu (UACR) trên 1 mẫu. Có thể xét nghiệm trên mẫu nước tiểu bất kỳ nhưng tốt nhất là mẫu nước tiểu đầu buổi sáng lấy giữa dòng. Khuyến nghị định lượng albumin; nếu không có điều kiện định lượng thì định tính albumin bằng que nhúng. Nếu không định lượng được albumin niệu, có thể định lượng protein niệu 24 giờ hoặc tính tỷ lệ protein/creatinin niệu (UPCR) trên 1 mẫu. Trường hợp không thực hiện được tất cả các phương án trên thì định tính protein bằng que nhúng.
  • Đối với trẻ em và người trẻ tuổi: ưu tiên tầm soát albumin niệu và nên sử dụng UACR hơn là UPCR cho lần xét nghiệm đầu do UACR có độ nhạy cao hơn UPCR khi nồng độ protein niệu thấp. Nếu UACR trong khoảng 3 - 70 mg/mmol (30 - 700 mg/g) cần làm lại xét nghiệm bằng mẫu nước tiểu buổi sáng tiếp theo để xác nhận. Không cần làm lại xét nghiệm nếu UACR từ 70 mg/mmol (700 mg/g) trở lên.
  • Người trưởng thành, người trẻ tuổi và trẻ em bị đái tháo đường (ĐTĐ); người trưởng thành có MLCT ước tính dưới 60 ml/phút/1,73m 2 hoặc MLCT ước tính từ 60 ml/phút/1,73m 2 nhưng nghi ngờ có BTM; trẻ em và người trẻ tuổi không bị ĐTĐ nhưng có creatinine máu vượt ngưỡng bình thường theo giá trị tham chiếu của nhóm tuổi tương ứng cần được xét nghiệm protein niệu và UACR.
  • Khi UACR từ 70 mg/mmol trở lên có thể sử dụng UPCR thay thế UACR.
  • Khi phát hiện tình cờ albumin hoặc protein niệu bằng que nhúng nhưng chưa rõ nguyên nhân, cần tầm soát BTM bằng MLCT ước tính và UACR hoặc UPCR với mẫu nước tiểu buổi sáng lấy giữa dòng.
- Tìm hồng cầu niệu
  • Hồng cầu niệu được đánh giá bằng que nhúng cho người trưởng thành, người trẻ tuổi và trẻ em. Nếu kết quả ≥ 1+ cần đánh giá tiếp tục. Không cần soi nước tiểu để xác định lại kết quả.
  • Để phân biệt đái máu vi thể với đái máu thoáng qua khi không có protein niệu, có thể dựa vào kết quả hồng cầu niệu dương tính bằng que nhúng tối thiểu 2 trong 3 lần thử.
  • Khi có đái máu vi thể dai dẳng kèm theo hoặc không kèm protein niệu, cần thăm dò bệnh lý ác tính ở đường tiết niệu cho những đối tượng ở độ tuổi phù hợp.
  • Khi đái máu vi thể dai dẳng không kèm protein niệu cần xét nghiệm hồng cầu, protein hoặc albumin trong nước tiểu, MLCT và theo dõi HA hàng năm.
- Các thăm dò hình ảnh
  • Siêu âm thận: có giá trị trong phát hiện ứ nước thận, đặc biệt ở giai đoạn sớm hoặc ở người bị mất nước; đồng thời giúp phát hiện dải xơ sau phúc mạc, khối u hoặc hạch to gây chèn ép. Đa số bệnh nhân có BTM giai đoạn muộn thường có thận nhỏ và tăng âm.
  • Chụp hệ tiết niệu ngược dòng: hỗ trợ chẩn đoán tắc nghẽn khi siêu âm không phát hiện được, và phát hiện sỏi thận.
  • Chụp MSCT: giúp xác định rõ hơn các khối và nang thận được phát hiện qua siêu âm; đồng thời rất nhạy trong phát hiện sỏi thận.
  • Chụp MRI: có thể chỉ định cho bệnh nhân cần chụp CT nhưng không thể dùng thuốc cản quang tĩnh mạch; có giá trị đặc biệt trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch thận.
  • Chụp thận bằng chất phóng xạ: giúp khảo sát tình trạng hẹp động mạch thận và lượng giá MLCT từng bên.
- Sinh thiết thận: thường được chỉ định khi có giảm chức năng thận và/hoặc protein niệu đến mức gợi ý thận hư, và khi chẩn đoán chưa rõ sau khi đã đánh giá phù hợp. Nên sinh thiết thận để đánh giá nguyên nhân và hướng dẫn điều trị khi lâm sàng cho phép.

Đánh giá chức năng thận

  • Các cơ sở xét nghiệm cần báo cáo MLCT ước tính dựa trên công thức kèm theo giá trị creatinine máu. Khi diễn giải, phải lưu ý các tình huống mà MLCT ước tính có thể không phản ánh chính xác mức lọc cầu thận thực tế.
  • Khuyến cáo các phòng xét nghiệm lựa chọn công thức ước tính MLCT phù hợp với kỹ thuật định lượng creatinin tại đơn vị. Đối với người trưởng thành, nên sử dụng công thức CKD-EPI; đồng thời, kỹ thuật định lượng creatinin cần được chuẩn hóa theo tài liệu tham chiếu bằng Isotope Dilution Mass Spectrometry (IDMS).
  • Người được tầm soát không nên ăn nhiều thịt trong vòng 12 giờ trước khi lấy máu. Mẫu bệnh phẩm cần được vận chuyển đến phòng xét nghiệm trong vòng 12 giờ sau khi lấy máu.
  • Cần thận trọng khi nhận định MLCT ước tính từ 60ml/phút/1,73m2 trở lên, vì độ chính xác của chỉ số ước tính có xu hướng giảm dần khi MLCT thực tế tăng dần.
  • Nếu thu được MLCT ước tính dưới 60ml/phút/1,73m2 lần đầu, cần chỉ định làm lại xét nghiệm để xác nhận trong vòng 2 tuần; cần tính đến dao động sinh học và sai số kỹ thuật của chỉ số creatinine máu được chấp nhận giữa các kết quả (+ 5%).
  • Nếu có thể xét nghiệm được Cystatin C máu, khuyến cáo ước tính MLCT bằng công thức kết hợp creatinin và cystatin C. Trường hợp không thực hiện được xét nghiệm cystatin C, nên sử dụng công thức ước tính dựa trên creatinin máu.

Các công thức ước tính chức năng lọc cầu thận dựa vào creatinin máu
Cockcroft-Gaut MDRD (Modification of Diet in Renal Disease Study) CKD-EPI 2021
Ý nghĩa Độ thanh thải Creatinin (CrCl) Mức lọc cầu thận ước tính (eGFR)
Công thức Cockcroft-Gault CrCl, mL/phút = [(140 – tuổi) × (cân nặng) × (0.85 nếu là nữ)] / [72 × Scr]
  • sCr: creatinine máu (mg/dL)
  • Cân nặng: kg
A × sCr-1,154 × tuổi-0,203 × 1,212 (nếu BN chủng tộc da đen) × 0,742 (nếu là nữ)
  • A = 186 (nếu đo sCr theo phương pháp Jaffe) hoặc 175 (nếu đo sCr theo phương pháp IDMS)
  • sCr: creatinine máu (mg/dL)
eGFR = 142 × min(sCr/κ, 1) a × max(sCr/κ, 1) −1.200 × 0.9938 tuổi × 1.012 (nếu là nữ)
  • sCr: creatinine máu (mg/dL)
  • κ = 0,7 (nếu là nữ) và
  • κ = 0,9 (nếu là nam)
  • a = −0,241 (nếu là nữ) và
  • a = −0,302 (nếu là nam)
Điều kiện áp dụng
  • > 18 tuổi
  • Cân nặng thực tế nằm trong khoảng 30% cân nặng lý tưởng
  • Nồng độ creatinin máu ổn định
  • > 18 tuổi
  • Không béo phì
  • Nồng độ creatinin máu ổn định
Đặc điểm
  • CrCl cao hơn GFR thực tế 10-15% (do một phần creatinine được ống thận bài tiết)
  • Kết quả chưa được hiệu chỉnh theo diện tích bề mặt cơ thể và đặc điểm chủng tộc
  • Chính xác hơn Cockcroft-Gaut nếu eGFR < 60 mL/phút/1,73m2
  • Kém chính xác hơn ở giá trị eGFR ≥ 60 mL/phút/1,73m2

CKD-EPI chính xác hơn MDRD, đặc biệt khi eGFR > 60 mL/phút/1,73m2 và không có bệnh thận trước đó

Nếu định lượng creatinin máu bằng kỹ thuật Jaffe có thể dùng công thức CKD-EPI 2009 dưới đây:
eGFR = 141 × min(sCr/κ, 1)a × max(sCr/κ, 1)−1,209 × 0,993 × tuổi−0,329 × 1,018 (nếu là nữ) × 1,159 (nếu da đen)
  • sCr: creatinine máu (mg/dL)
  • κ = 0,7 (nếu là nữ) và κ = 0,9 (nếu là nam)
  • α = −0,329 (nếu là nữ) và a = −0,411 (nếu là nam)
Nếu định lượng được đồng thời creatinin và cystatin C máu có thể dùng công thức CKDEPI creatinin-cystatinC dưới đây:
eGFRcr-cys = 135 x min(sCr/κ, 1)α × max(sCr/κ, 1)-0,544 × min(sCys/0,8, 1)-0,323 × max(sCys/0,8, 1)-0,778 × 0,9961Tuổi × 0,963 [nếu là nữ]
  • sCr: creatinine máu, mg/dL
  • κ = 0,7 (nếu là nữ) và κ = 0,9 (nếu là nam)
  • α = -0,219 (nếu là nữ) và a = −0,144 (nếu là nam)
  • min(sCr/κ, 1) là số tối thiểu của sCr/κ hay bằng 1,0
  • max(sCr/κ, 1) là số tối đa của sCr/κ hay bằng 1,0
  • sCys: cystatin C máu (mg/L)
  • Tuổi: năm
Xác định chính xác MLCT
  • Một số tình huống cần đo chính xác MLCT (ví dụ để theo dõi hóa trị, đánh giá chức năng thận ở người hiến thận sống…), nên xem xét sử dụng các phép đo được chuẩn hóa (inulin, 51Cr-EDTA, 125I-iothalamate, iohexol).

Xác định chẩn đoán

  • Sàng lọc bệnh thận mạn (BTM) ở các quần thể có yếu tố nguy cơ cần phải được tiến hành thường quy dựa trên việc xác định MLCT và albumin/protein nước tiểu. Không được chẩn đoán chỉ dựa trên một chỉ số duy nhất.
  • Những người không thuộc nhóm có yếu tố nguy cơ có thể được sàng lọc/tầm soát theo lịch khám sức khỏe định kỳ.
  • Cần kiểm tra, xác minh lại các bằng chứng về tính mạn tính thông qua: MLCT giai đoạn trước, tổn thương thận hoặc giảm MLCT kéo dài trên 3 tháng; hình ảnh thận giảm kích thước hoặc giảm độ dày của vỏ thận; hình ảnh tổn thương trên mô bệnh học; các tình trạng được biết là nguy cơ hoặc nguyên nhân gây BTM; kết quả xét nghiệm trước đó; và việc lặp lại xét nghiệm trong vòng 3 tháng và ngoài 3 tháng. Việc đánh giá không dựa vào kết quả bất thường đơn lẻ.
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh thận mạn
(bất kỳ chỉ dấu nào được liệt kê dưới đây tồn tại từ 3 tháng trở lên)
Giảm MLCT MLCT < 60 ml/phút /1,73 m2
Chỉ dấu thương tổn hay hư hỏng ở thận
  • Albumin nước tiểu (UACR >30 mg/g (3mg/mmol); UAE > 30mg/24h) hoặc Protein nước tiểu (UPCR > 150mg/g (15mg/mmol); UPE > 150mg/24h) nếu không xét nghiệm được albumin nước tiểu.
  • Thay đổi mô học trên tiêu bản sinh thiết thận
  • Thay đổi trong tế bào, cặn lắng nước tiểu
  • Thay đổi cấu trúc trên hình ảnh
  • Rối loạn nước-điện giải hoặc các rối loạn khác do nguyên nhân ống thận
  • Tiền sử ghép thận
  • MLCT: mức lọc cầu thận;
  • UACR: tỷ lệ albumin/creatinine nước tiểu;
  • UAE: albumin nước tiểu trong 24h;
  • UPCR: tỷ lệ protein/creatinine nước tiểu;
  • UPE: protein nước tiểu trong 24h

Phân giai đoạn và phân tầng nguy cơ

Phân giai đoạn bệnh thận mạn

Các giai đoạn của BTM theo KDIGO 2012 và đồng thuận 2014
Giai đoạn Mô tả MLCT
(ml/phút/1,73m2)
1 Tổn thương thận kèm MLCT bình thường hoặc tăng ≥ 90
2 Tổn thương thận kèm giảm nhẹ MLCT 60-89
3a Giảm nhẹ đến vừa MLCT 45-59
3b Giảm vừa đến nặng MLCT 30-44
4 Giảm nặng MLCT 15-29
5 Suy thận < 15 (hay lọc máu)
Giai đoạn 1-4: T nếu là ghép thận
Giai đoạn 4-5: D nếu lọc máu

Phân tầng nguy cơ tiến triển bệnh thận mạn và tần suất khám theo dõi

a. Phân tầng nguy cơ dựa vào albumin/protein nước tiểu
Các nhóm albumin/protein nước tiểu
A1
Bình thường đến
tăng nhẹ
A2
Tăng vừa
A3
Tăng nhiều
UACR
mg/g
mg/mmol
< 30
< 3
30 – 300
3 – 30
> 300
> 30
UPCR
mg/g
mg/mmol
< 150
< 15
150 – 500
15 – 50
> 500
> 50
UAE (mg/24h)
UPE (mg/24h)
Test nhúng
< 30
< 150
Âm tính ⇒ vết
30 – 300
150 – 500
Vết ⇒ 1+
> 300
> 500
≥ 1+
UACR: tỷ lệ albumin/creatinine nước tiểu (1 mẫu); UPCR: tỷ lệ protein/creatinine nước tiểu (1 mẫu); UAE: albumin nước tiểu trong 24h; UPE: protein nước tiểu trong 24h

b. Đánh giá nguy cơ dựa vào nguyên nhân gây bệnh thận mạn
  • Nguyên nhân gây bệnh thận mạn có thể có diễn biến khác nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiến triển của bệnh thận mạn. Cần tìm nguyên nhân dựa vào bệnh cảnh lâm sàng, khai thác kỹ tiền sử cá nhân và gia đình, các yếu tố môi trường-xã hội, thuốc, thăm khám lâm sàng, các kết quả xét nghiệm, thăm dò hình ảnh, chẩn đoán di truyền và chẩn đoán mô bệnh học (nếu có).
  • Phân tầng nguy cơ chính xác nhất là dựa trên 3 yếu tố: albumin/protein nước tiểu, MLCT và nguyên nhân gây bệnh thận mạn (AGC).
  • Trường hợp không thể phân tầng nguy cơ cần có ý kiến bác sĩ chuyên khoa.

c. Phân tầng nguy cơ tiến triển bệnh thận mạn dựa vào MLCT kết hợp albumin nước tiểu và tần suất khám theo dõi định kỳ cho người bệnh đã xác lập chẩn đoán bệnh thận mạn ổn định
xin tham khảo bảng bên dưới phần giải thích
Phân giai đoạn, phân tầng nguy cơ và tần suất tái khám hàng năm theo KDIGO 2024
Phân loại bệnh thận mạn dựa trên:
- Nguyên nhân(C)
- MLCT(G)
- Albumin niệu(A)
Mức độ Albumin niệu
A1 A2 A3
Bình thường-tăng nhẹ Tăng trung bình Tăng nặng
< 30 mg/g
< 3 mg/mmol
< 30-299 mg/g
< 3-29 mg/mmol
≥ 300 mg/g
≥ 30 mg/mmol
Phân loại theo
MLCT
(ml/ph/1.73m²)
G1 Bình thường hoặc tăng ≥ 90 Sàng lọc
1
Điều trị
1
Điều trị
3
G2 Giảm nhẹ 60-89 Sàng lọc
1
Điều trị
1
Điều trị
3
G3a Giảm nhẹ đến trung bình 45-59 Điều trị
1
Điều trị
2
Điều trị
3
G3b Giảm trung bình đến nặng 30-44 Điều trị
2
Điều trị
3
Điều trị
3
G4 Giảm nặng 15-29 Điều trị
3
Điều trị
3
Điều trị
4+
G5 Suy thận < 15 Điều trị
4+
Điều trị
4+
Điều trị
4+
  • Màu xanh lá (G1-2A1) tương ứng nguy cơ mức độ thấp (nếu không có các chỉ dấu khác về bệnh thận, cũng như không có bệnh thận mạn). Những người bệnh thuộc nhóm này có thể được khám và xét nghiệm với tần suất của người khỏe mạnh, thông thường là hàng năm và có thể do bác sĩ không phải chuyên khoa Thận quản lý.
  • Màu vàng (G1-2A2, G3aA1) tương ứng nguy cơ mức độ vừa. Những người bệnh thuộc nhóm này cần được khám và xét nghiệm theo dõi ít nhất 1 lần mỗi năm và có thể do bác sĩ không phải chuyên khoa Thận quản lý.
  • Màu cam (G1-2A3, G3aA2 và G3bA1) tương ứng nguy cơ mức độ cao. Những người bệnh thuộc nhóm này cần được khám và xét nghiệm theo dõi ít nhất 2 lần mỗi năm. Bác sĩ không phải chuyên khoa Thận có thể theo dõi nhưng cần chuyển khám bác sĩ chuyên khoa Thận nếu albumin nước tiểu tăng lên hoặc MLCT giảm xuống, nhất là ở người <70 tuổi.
  • Màu đỏ (G3a-bA3, G3b-4A2 và G4A1) tương ứng nguy cơ mức độ rất cao. Những người bệnh thuộc nhóm này cần được khám và xét nghiệm theo dõi ít nhất 3 lần mỗi năm và do bác sĩ chuyên khoa Thận theo dõi quản lý.
  • Màu đỏ sẫm (G4-5A3 và G5A1-2) tương ứng nguy cơ ở mức cao nhất. Tất cả người bệnh thuộc nhóm này cần được bác sĩ chuyên khoa Thận theo dõi với tần suất khám và xét nghiệm tối thiểu 4 lần mỗi năm.
Tất cả người bệnh bệnh thận mạn giai đoạn 4 trở lên và/hoặc có Albumin niệu cao (mức A3) đều cần được bác sĩ chuyên khoa Thận theo dõi.
Những người bệnh tổn thương thận cấp cần nhập viện cần theo dõi chức năng thận và tầm soát bệnh thận mạn trong ít nhất ba năm sau khi ra viện, kể cả khi chức năng thận đã quay về mức nền.
Những trường hợp có tình trạng chưa ổn định cần cá thể hoá tần suất khám và xét nghiệm tại mỗi lần khám bệnh, ví dụ khi đang điều chỉnh liều thuốc hạ áp, điều trị thiếu máu, can thiệp dinh dưỡng, rà soát lại liều và danh mục thuốc, can thiệp ngoại khoa, nhiễm trùng v.v… Cần thăm dò thêm để tìm nguyên nhân trong các trường hợp: thay đổi MLCT >20% hoặc tăng gấp đôi UACR so với chỉ số của lần xét nghiệm trước, MLCT giảm quá 30% sau khi khởi trị bằng các thuốc có ảnh hưởng huyết động.
Đối với mọi người bệnh bị bệnh thận mạn giai đoạn 3-5, khuyến cáo sử dụng công thức tính nguy cơ đã được kiểm định ngoài để ước tính nguy cơ suy thận tuyệt đối và nguy cơ tử vong do tim mạch khi xác định cần chuyển chuyên khoa Thận, cần chăm sóc đa chuyên khoa hay cần chuẩn bị điều trị thay thế thận, đồng thời xác định mục tiêu chăm sóc và các chiến lược điều trị dự phòng cho người bệnh. Ngoài MLCT và UACR, có thể sử dụng chỉ số nguy cơ suy thận sau 5 năm từ 3-5% làm cơ sở để chuyển người bệnh sang chuyên khoa Thận; nguy cơ suy thận sau 2 năm >10% làm cơ sở để yêu cầu chăm sóc đa chuyên khoa. Không áp dụng các công thức tính nguy cơ này cho người bệnh bị bệnh thận mạn giai đoạn 1-2.

CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

  • Tổn thương thận cấp
  • Hẹp động mạch thận
  • Viêm mạch
  • Viêm cầu thận tiến triển nhanh

Tài liệu tham khảo

  1. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh thận mạn và một số bệnh lý thận. Số 2388/QĐ-BYT. 12/08/2024. Bộ Y Tế