GIỚI THIỆU
Bệnh thận mạn (BTM) được hiểu là tình trạng bất thường về cấu trúc hoặc chức năng thận kéo dài trên 3 tháng, xuất phát từ bất kỳ nguyên nhân nào, và gây ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh.
NGUYÊN NHÂN
Nguyên nhân gây bệnh thận mạn
| Phân nhóm nguyên nhân bệnh thận mạn theo vị trí tổn thương | |
|---|---|
| Các nhóm nguyên nhân bệnh thận mạn | |
| Tổn thương mạch thận | Bệnh lý vi mạch (microangiopathy diseases) |
| Bệnh lý mạch máu lớn (macroangiopathy diseases) | |
| Tổn thương cầu thận | Nguyên phát |
| Thứ phát | |
| Tổn thương ống-kẽ thận | Nguyên phát |
| Thứ phát | |
| Tổn thương hệ tiết niệu | Nhiễm trùng đường tiết niệu |
| Tắc nghẽn đường tiết niệu, trào ngược bàng quang–niệu quản | |
| Sỏi tiết niệu | |
| Dị dạng đường tiết niệu | |
Ngoài ra, bệnh lý thận trong bối cảnh ung thư được tách thành một chuyên ngành riêng, bao gồm người bệnh thận mắc ung thư hoặc người ung thư kèm theo bệnh thận. Tổn thương thận cấp (TTTC) và BTM làm tăng di chứng và tử vong ở tất cả bệnh nhân, kể cả người đã bị ung thư; đồng thời, người ung thư có các rối loạn đặc trưng của ung thư đi kèm biểu hiện bệnh thận và tần suất BTM cũng như ung thư cao, tuổi thọ người bệnh ngày càng được cải thiện. Vì vậy, cần sự tham gia của bác sĩ chuyên khoa Thận trong nhóm chăm sóc người bệnh ung thư. Tổn thương thận liên quan đến ung thư thường mang tính chất hỗn hợp thông qua nhiều cơ chế khác nhau.
| Một số bệnh lý thận do ung thư và thuốc điều trị ung thư | ||
|---|---|---|
| Bệnh lý | Hay gặp | Ít gặp |
| Leukemia | TTTC do nhiễm khuẩn, giảm thể tích, ngộ độc thuốc | Bệnh thâm nhiễm, viêm cầu thận, TTTC do hội chứng tiêu khối u |
| Đa u tủy xương | Bệnh thận do đa u tủy xương. TTTC do giảm thể tích | Amyloidosis, bệnh lắng đọng chuỗi nhẹ (LCDD), hội chứng Fanconi, TTTC do tăng canxi máu, VCT màng tăng sinh type 1 |
| Lymphoma | TTTC do hội chứng tiêu khối u và giảm thể tích | Bệnh đường tiết niệu do tắc nghẽn, bệnh lý thâm nhiễm, bệnh thận tổn thương tối thiểu (Hodgkin), VCT màng tăng sinh type 1 (u lympho non-Hodgkin) |
| Ung thư tế bào thận | Ngộ độc thuốc ức chế yếu tố tăng trưởng nội mạch (AntiVEGF) | Bệnh đường tiết niệu do tắc nghẽn, bệnh thận màng |
| Ung thư phổi, đầu cổ | Ngộ độc Platinum | SIADH, viêm cầu thận màng |
| Ung thư đường tiết niệu sinh dục | Bệnh đường tiết niệu do tắc nghẽn | Ngộ độc Platinum |
| Bệnh thận do thuốc thường dùng trong điều trị ung thư | Tổn thương thận cấp, bệnh ống thận, BTM do hóa trị. (VD: cisplatin, ifosfamide, methotrexate); ngộ độc các liệu pháp điều trị đích (gồm protein niệu, TMA, tăng huyết áp) | Viêm thận do xạ trị, TMA, viêm cầu thận |
| Bệnh thận do tắc nghẽn | Các ung thư đường tiết niệu, sinh dục | Lymphoma |
| TTTC: tổn thương thận cấp; LCDD: light chain deposit disease – bệnh lắng đọng chuỗi nhẹ; VCT: viêm cầu thận; TMA: thrombotic microangiopathy – bệnh vi mạch huyết khối; SIADH: Syndrome of inappropriate antidiuretic hormone secretion – Hội chứng tăng tiết hormon chống bài niệu ADH không phù hợp | ||
Các yếu tố nguy cơ gây bệnh thận mạn hoặc đẩy nhanh tiến triển bệnh thận mạn
Các yếu tố làm tăng nhạy cảm của thận
- Tuổi cao (thường trên 60 tuổi)
- Tiền sử gia đình có bệnh thận giai đoạn cuối (MLCT <15ml/ph/1,73m 2 ) hoặc bệnh thận di truyền (đặc biệt ở những người có quan hệ huyết thống thế hệ 1)
- Đái tháo đường
- Tăng huyết áp
- Gout
- Có tiền sử đã bị tổn thương thận cấp
- Bệnh tim mạch (bệnh tim thiếu máu cục bộ, suy tim mạn tính, bệnh mạch ngoại vi hoặc bệnh mạch não) hoặc có các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch (hút thuốc, rối loạn lipid máu, hội chứng chuyển hóa)
- Giảm khối lượng mô thận
- Nhẹ cân khi sinh/sinh non
- Có 1 thận chức năng duy nhất
- Tiền sản giật/sản giật
- Béo phì (BMI ≥ 25 kg/m 2 )
- Điều kiện kinh tế–xã hội, môi trường, quần thể có các biến thể gen làm tăng nguy cơ mắc bệnh cao, chủng tộc châu Á
Các yếu tố khởi động tổn thương thận trực tiếp
- Suy thận cấp/ Tổn thương thận cấp
- Có bệnh lý tắc nghẽn đường tiết niệu hoặc thay đổi cấu trúc đường tiết niệu, sỏi thận tái phát hoặc phì đại tuyến tiền liệt
- Có nhiễm trùng mạn tính hoặc nhiễm trùng hệ thống (bao gồm viêm gan virus B, C, HIV, SARS-CoV-2)
- Bệnh đa hệ thống, bệnh tự miễn hoặc bệnh ác tính có nguy cơ gây tổn thương thận tiềm tàng hoặc thường đi kèm BTM, ví dụ lupus đỏ hệ thống
- Sử dụng thuốc hoặc tiếp xúc cơ chất có thể gây ảnh hưởng xấu đến chức năng thận hoặc gây độc thận; ví dụ thuốc ức chế calcineurin (ciclosporin hay tacrolimus), hợp chất chứa nguyên tố lithium hoặc thuốc chống viêm không steroid (sử dụng dài hạn), thuốc kháng virus, các kim loại như chì, thủy ngân, thuốc trừ sâu…, và tình trạng chiếu tia
- Tăng huyết áp
- Đái tháo đường
- Được phát hiện tình cờ có đái máu hoặc protein trong nước tiểu
Các yếu tố thúc đẩy BTM tiến triển (làm nặng tổn thương và tăng tốc quá trình suy giảm chức năng thận)
- Protein niệu dai dẳng
- Tăng huyết áp kiểm soát kém
- Đái tháo đường kiểm soát kém
- Bệnh lý tim mạch đi kèm hút thuốc
- Rối loạn lipid máu
- Điều trị thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) kéo dài
- Tắc nghẽn đường tiết niệu
- Nhiễm toan chuyển hóa
- Tổn thương thận cấp và phơi nhiễm chất độc cho thận
- Nhập viện vì suy tim
- Người châu Á
- Béo phì
CHẨN ĐOÁN
Lâm sàng
- Ở giai đoạn sớm, BTM thường không biểu hiện triệu chứng lâm sàng; bệnh chủ yếu được nhận biết thông qua các xét nghiệm cận lâm sàng. Một số trường hợp có thể xuất hiện triệu chứng do các tình trạng bệnh lý hoặc yếu tố nguy cơ đã biết (ví dụ đái tháo đường, tăng huyết áp) hoặc do chính bệnh lý nguyên nhân gây BTM.
- Triệu chứng lâm sàng thường xuất hiện ở giai đoạn muộn. Việc dựa vào các biểu hiện lâm sàng khi đã có triệu chứng có thể dẫn đến chẩn đoán quá muộn, lúc đó không còn khả năng bảo tồn hoặc đã có nhiều biến chứng, khó can thiệp hiệu quả hoặc phải điều trị thay thế; đồng thời làm tăng chi phí điều trị, tăng tỷ lệ biến chứng và tử vong.
Quy trình sàng lọc, tầm soát bệnh thận mạn
Các đối tượng cần tầm soát BTM chủ động và tần suất tầm soát
- Các đối tượng có yếu tố nguy cơ nêu trong mục nguyên nhân và yếu tố thúc đẩy (ở trên) cần được ưu tiên tầm soát BTM chủ động bằng cách xác định MLCT dựa vào creatinine máu (hoặc creatinine và cystatin C máu nếu thực hiện đồng thời cả 2 xét nghiệm khi có điều kiện) và xét nghiệm UACR nước tiểu 1 năm 1 lần.
- Người trưởng thành, người trẻ tuổi và trẻ em sử dụng các thuốc có thể làm suy giảm chức năng thận (ví dụ thuốc ức chế calcineurin (CNI), gồm ciclosporin hay tacrolimus; hợp chất chứa nguyên tố lithium; hoặc thuốc NSAID (sử dụng dài hạn)) cần được theo dõi MLCT tối thiểu hàng năm.
- Tất cả các đối tượng (người trưởng thành, người trẻ tuổi, trẻ em) có tổn thương thận cấp cần theo dõi MLCT và UACR tối thiểu hàng năm trong ít nhất 3 năm tiếp theo ngay cả khi MLCT đã trở về chỉ số ban đầu để phát hiện sự xuất hiện hoặc tiến triển BTM. Các trường hợp tổn thương thận cấp độ 3 cần theo dõi lâu hơn nữa.
- Cần lưu ý rằng tuổi, giới tính, chủng tộc hoặc tình trạng thừa cân nhưng không kèm hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường, tăng huyết áp không được xem là yếu tố nguy cơ để chỉ định sàng lọc BTM chủ động.
Đánh giá tổn thương hoặc hư hỏng mô thận
Ưu tiên sử dụng chỉ số albumin niệu; hoặc từ mẫu nước tiểu 24 giờ; hoặc tính tỷ số albumin/creatinin nước tiểu (UACR) trên 1 mẫu. Có thể xét nghiệm trên mẫu nước tiểu bất kỳ nhưng tốt nhất là mẫu nước tiểu đầu buổi sáng lấy giữa dòng. Khuyến nghị định lượng albumin; nếu không có điều kiện định lượng thì định tính albumin bằng que nhúng. Nếu không định lượng được albumin niệu, có thể định lượng protein niệu 24 giờ hoặc tính tỷ lệ protein/creatinin niệu (UPCR) trên 1 mẫu. Trường hợp không thực hiện được tất cả các phương án trên thì định tính protein bằng que nhúng.
- Đối với trẻ em và người trẻ tuổi: ưu tiên tầm soát albumin niệu và nên sử dụng UACR hơn là UPCR cho lần xét nghiệm đầu do UACR có độ nhạy cao hơn UPCR khi nồng độ protein niệu thấp. Nếu UACR trong khoảng 3 - 70 mg/mmol (30 - 700 mg/g) cần làm lại xét nghiệm bằng mẫu nước tiểu buổi sáng tiếp theo để xác nhận. Không cần làm lại xét nghiệm nếu UACR từ 70 mg/mmol (700 mg/g) trở lên.
- Người trưởng thành, người trẻ tuổi và trẻ em bị đái tháo đường (ĐTĐ); người trưởng thành có MLCT ước tính dưới 60 ml/phút/1,73m 2 hoặc MLCT ước tính từ 60 ml/phút/1,73m 2 nhưng nghi ngờ có BTM; trẻ em và người trẻ tuổi không bị ĐTĐ nhưng có creatinine máu vượt ngưỡng bình thường theo giá trị tham chiếu của nhóm tuổi tương ứng cần được xét nghiệm protein niệu và UACR.
- Khi UACR từ 70 mg/mmol trở lên có thể sử dụng UPCR thay thế UACR.
- Khi phát hiện tình cờ albumin hoặc protein niệu bằng que nhúng nhưng chưa rõ nguyên nhân, cần tầm soát BTM bằng MLCT ước tính và UACR hoặc UPCR với mẫu nước tiểu buổi sáng lấy giữa dòng.
- Hồng cầu niệu được đánh giá bằng que nhúng cho người trưởng thành, người trẻ tuổi và trẻ em. Nếu kết quả ≥ 1+ cần đánh giá tiếp tục. Không cần soi nước tiểu để xác định lại kết quả.
- Để phân biệt đái máu vi thể với đái máu thoáng qua khi không có protein niệu, có thể dựa vào kết quả hồng cầu niệu dương tính bằng que nhúng tối thiểu 2 trong 3 lần thử.
- Khi có đái máu vi thể dai dẳng kèm theo hoặc không kèm protein niệu, cần thăm dò bệnh lý ác tính ở đường tiết niệu cho những đối tượng ở độ tuổi phù hợp.
- Khi đái máu vi thể dai dẳng không kèm protein niệu cần xét nghiệm hồng cầu, protein hoặc albumin trong nước tiểu, MLCT và theo dõi HA hàng năm.
- Siêu âm thận: có giá trị trong phát hiện ứ nước thận, đặc biệt ở giai đoạn sớm hoặc ở người bị mất nước; đồng thời giúp phát hiện dải xơ sau phúc mạc, khối u hoặc hạch to gây chèn ép. Đa số bệnh nhân có BTM giai đoạn muộn thường có thận nhỏ và tăng âm.
- Chụp hệ tiết niệu ngược dòng: hỗ trợ chẩn đoán tắc nghẽn khi siêu âm không phát hiện được, và phát hiện sỏi thận.
- Chụp MSCT: giúp xác định rõ hơn các khối và nang thận được phát hiện qua siêu âm; đồng thời rất nhạy trong phát hiện sỏi thận.
- Chụp MRI: có thể chỉ định cho bệnh nhân cần chụp CT nhưng không thể dùng thuốc cản quang tĩnh mạch; có giá trị đặc biệt trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch thận.
- Chụp thận bằng chất phóng xạ: giúp khảo sát tình trạng hẹp động mạch thận và lượng giá MLCT từng bên.
Đánh giá chức năng thận
- Các cơ sở xét nghiệm cần báo cáo MLCT ước tính dựa trên công thức kèm theo giá trị creatinine máu. Khi diễn giải, phải lưu ý các tình huống mà MLCT ước tính có thể không phản ánh chính xác mức lọc cầu thận thực tế.
- Khuyến cáo các phòng xét nghiệm lựa chọn công thức ước tính MLCT phù hợp với kỹ thuật định lượng creatinin tại đơn vị. Đối với người trưởng thành, nên sử dụng công thức CKD-EPI; đồng thời, kỹ thuật định lượng creatinin cần được chuẩn hóa theo tài liệu tham chiếu bằng Isotope Dilution Mass Spectrometry (IDMS).
- Người được tầm soát không nên ăn nhiều thịt trong vòng 12 giờ trước khi lấy máu. Mẫu bệnh phẩm cần được vận chuyển đến phòng xét nghiệm trong vòng 12 giờ sau khi lấy máu.
- Cần thận trọng khi nhận định MLCT ước tính từ 60ml/phút/1,73m2 trở lên, vì độ chính xác của chỉ số ước tính có xu hướng giảm dần khi MLCT thực tế tăng dần.
- Nếu thu được MLCT ước tính dưới 60ml/phút/1,73m2 lần đầu, cần chỉ định làm lại xét nghiệm để xác nhận trong vòng 2 tuần; cần tính đến dao động sinh học và sai số kỹ thuật của chỉ số creatinine máu được chấp nhận giữa các kết quả (+ 5%).
- Nếu có thể xét nghiệm được Cystatin C máu, khuyến cáo ước tính MLCT bằng công thức kết hợp creatinin và cystatin C. Trường hợp không thực hiện được xét nghiệm cystatin C, nên sử dụng công thức ước tính dựa trên creatinin máu.
| Các công thức ước tính chức năng lọc cầu thận dựa vào creatinin máu | ||||
|---|---|---|---|---|
| Cockcroft-Gaut | MDRD (Modification of Diet in Renal Disease Study) | CKD-EPI 2021 | ||
| Ý nghĩa | Độ thanh thải Creatinin (CrCl) | Mức lọc cầu thận ước tính (eGFR) | ||
| Công thức |
Cockcroft-Gault CrCl, mL/phút = [(140 – tuổi) × (cân nặng) × (0.85 nếu là nữ)] / [72 × Scr]
|
A × sCr-1,154 × tuổi-0,203 × 1,212 (nếu BN chủng tộc da đen) × 0,742 (nếu là nữ)
|
eGFR = 142 ×
min(sCr/κ, 1) a × max(sCr/κ, 1) −1.200 × 0.9938 tuổi × 1.012 (nếu là nữ)
|
|
| Điều kiện áp dụng |
|
|
||
| Đặc điểm |
|
CKD-EPI chính xác hơn MDRD, đặc biệt khi eGFR > 60 mL/phút/1,73m2 và không có bệnh thận trước đó |
||
Nếu định lượng creatinin máu bằng kỹ thuật Jaffe có thể dùng công thức CKD-EPI 2009 dưới đây:
eGFR = 141 × min(sCr/κ, 1)a × max(sCr/κ, 1)−1,209 × 0,993 × tuổi−0,329 × 1,018 (nếu là nữ) × 1,159 (nếu da đen)
- sCr: creatinine máu (mg/dL)
- κ = 0,7 (nếu là nữ) và κ = 0,9 (nếu là nam)
- α = −0,329 (nếu là nữ) và a = −0,411 (nếu là nam)
eGFRcr-cys = 135 x min(sCr/κ, 1)α × max(sCr/κ, 1)-0,544 × min(sCys/0,8, 1)-0,323 × max(sCys/0,8, 1)-0,778 × 0,9961Tuổi × 0,963 [nếu là nữ]
- sCr: creatinine máu, mg/dL
- κ = 0,7 (nếu là nữ) và κ = 0,9 (nếu là nam)
- α = -0,219 (nếu là nữ) và a = −0,144 (nếu là nam)
- min(sCr/κ, 1) là số tối thiểu của sCr/κ hay bằng 1,0
- max(sCr/κ, 1) là số tối đa của sCr/κ hay bằng 1,0
- sCys: cystatin C máu (mg/L)
- Tuổi: năm
- Một số tình huống cần đo chính xác MLCT (ví dụ để theo dõi hóa trị, đánh giá chức năng thận ở người hiến thận sống…), nên xem xét sử dụng các phép đo được chuẩn hóa (inulin, 51Cr-EDTA, 125I-iothalamate, iohexol).
Xác định chẩn đoán
- Sàng lọc bệnh thận mạn (BTM) ở các quần thể có yếu tố nguy cơ cần phải được tiến hành thường quy dựa trên việc xác định MLCT và albumin/protein nước tiểu. Không được chẩn đoán chỉ dựa trên một chỉ số duy nhất.
- Những người không thuộc nhóm có yếu tố nguy cơ có thể được sàng lọc/tầm soát theo lịch khám sức khỏe định kỳ.
- Cần kiểm tra, xác minh lại các bằng chứng về tính mạn tính thông qua: MLCT giai đoạn trước, tổn thương thận hoặc giảm MLCT kéo dài trên 3 tháng; hình ảnh thận giảm kích thước hoặc giảm độ dày của vỏ thận; hình ảnh tổn thương trên mô bệnh học; các tình trạng được biết là nguy cơ hoặc nguyên nhân gây BTM; kết quả xét nghiệm trước đó; và việc lặp lại xét nghiệm trong vòng 3 tháng và ngoài 3 tháng. Việc đánh giá không dựa vào kết quả bất thường đơn lẻ.
| Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh thận mạn | |
|---|---|
| (bất kỳ chỉ dấu nào được liệt kê dưới đây tồn tại từ 3 tháng trở lên) | |
| Giảm MLCT | MLCT < 60 ml/phút /1,73 m2 |
| Chỉ dấu thương tổn hay hư hỏng ở thận |
|
|
|
Phân giai đoạn và phân tầng nguy cơ
Phân giai đoạn bệnh thận mạn
| Các giai đoạn của BTM theo KDIGO 2012 và đồng thuận 2014 | ||
|---|---|---|
| Giai đoạn | Mô tả |
MLCT (ml/phút/1,73m2) |
| 1 | Tổn thương thận kèm MLCT bình thường hoặc tăng | ≥ 90 |
| 2 | Tổn thương thận kèm giảm nhẹ MLCT | 60-89 |
| 3a | Giảm nhẹ đến vừa MLCT | 45-59 |
| 3b | Giảm vừa đến nặng MLCT | 30-44 |
| 4 | Giảm nặng MLCT | 15-29 |
| 5 | Suy thận | < 15 (hay lọc máu) |
Giai đoạn 1-4: T nếu là ghép thận
Giai đoạn 4-5: D nếu lọc máu
Giai đoạn 4-5: D nếu lọc máu
Phân tầng nguy cơ tiến triển bệnh thận mạn và tần suất khám theo dõi
a. Phân tầng nguy cơ dựa vào albumin/protein nước tiểu
| Các nhóm albumin/protein nước tiểu | |||
|---|---|---|---|
| A1 Bình thường đến tăng nhẹ |
A2 Tăng vừa |
A3 Tăng nhiều |
|
|
UACR mg/g mg/mmol |
< 30 < 3 |
30 – 300 3 – 30 |
> 300 > 30 |
|
UPCR mg/g mg/mmol |
< 150 < 15 |
150 – 500 15 – 50 |
> 500 > 50 |
|
UAE (mg/24h) UPE (mg/24h) Test nhúng |
< 30 < 150 Âm tính ⇒ vết |
30 – 300 150 – 500 Vết ⇒ 1+ |
> 300 > 500 ≥ 1+ |
UACR: tỷ lệ albumin/creatinine nước tiểu (1 mẫu); UPCR: tỷ lệ protein/creatinine
nước tiểu (1 mẫu); UAE: albumin nước tiểu trong 24h; UPE: protein nước tiểu trong
24h
b. Đánh giá nguy cơ dựa vào nguyên nhân gây bệnh thận mạn
- Nguyên nhân gây bệnh thận mạn có thể có diễn biến khác nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiến triển của bệnh thận mạn. Cần tìm nguyên nhân dựa vào bệnh cảnh lâm sàng, khai thác kỹ tiền sử cá nhân và gia đình, các yếu tố môi trường-xã hội, thuốc, thăm khám lâm sàng, các kết quả xét nghiệm, thăm dò hình ảnh, chẩn đoán di truyền và chẩn đoán mô bệnh học (nếu có).
- Phân tầng nguy cơ chính xác nhất là dựa trên 3 yếu tố: albumin/protein nước tiểu, MLCT và nguyên nhân gây bệnh thận mạn (AGC).
- Trường hợp không thể phân tầng nguy cơ cần có ý kiến bác sĩ chuyên khoa.
c. Phân tầng nguy cơ tiến triển bệnh thận mạn dựa vào MLCT kết hợp albumin nước tiểu và tần suất khám theo dõi định kỳ cho người bệnh đã xác lập chẩn đoán bệnh thận mạn ổn định
xin tham khảo bảng bên dưới phần giải thích
| Phân giai đoạn, phân tầng nguy cơ và tần suất tái khám hàng năm theo KDIGO 2024 | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|
|
Phân loại bệnh thận mạn dựa trên:
- Nguyên nhân(C) - MLCT(G) - Albumin niệu(A) |
Mức độ Albumin niệu | |||||
| A1 | A2 | A3 | ||||
| Bình thường-tăng nhẹ | Tăng trung bình | Tăng nặng | ||||
| < 30 mg/g < 3 mg/mmol |
< 30-299 mg/g < 3-29 mg/mmol |
≥ 300 mg/g ≥ 30 mg/mmol |
||||
| Phân loại theo MLCT (ml/ph/1.73m²) |
G1 | Bình thường hoặc tăng | ≥ 90 | Sàng lọc 1 |
Điều trị 1 |
Điều trị 3 |
| G2 | Giảm nhẹ | 60-89 | Sàng lọc 1 |
Điều trị 1 |
Điều trị 3 |
|
| G3a | Giảm nhẹ đến trung bình | 45-59 | Điều trị 1 |
Điều trị 2 |
Điều trị 3 |
|
| G3b | Giảm trung bình đến nặng | 30-44 | Điều trị 2 |
Điều trị 3 |
Điều trị 3 |
|
| G4 | Giảm nặng | 15-29 | Điều trị 3 |
Điều trị 3 |
Điều trị 4+ |
|
| G5 | Suy thận | < 15 | Điều trị 4+ |
Điều trị 4+ |
Điều trị 4+ |
|
- Màu xanh lá (G1-2A1) tương ứng nguy cơ mức độ thấp (nếu không có các chỉ dấu khác về bệnh thận, cũng như không có bệnh thận mạn). Những người bệnh thuộc nhóm này có thể được khám và xét nghiệm với tần suất của người khỏe mạnh, thông thường là hàng năm và có thể do bác sĩ không phải chuyên khoa Thận quản lý.
- Màu vàng (G1-2A2, G3aA1) tương ứng nguy cơ mức độ vừa. Những người bệnh thuộc nhóm này cần được khám và xét nghiệm theo dõi ít nhất 1 lần mỗi năm và có thể do bác sĩ không phải chuyên khoa Thận quản lý.
- Màu cam (G1-2A3, G3aA2 và G3bA1) tương ứng nguy cơ mức độ cao. Những người bệnh thuộc nhóm này cần được khám và xét nghiệm theo dõi ít nhất 2 lần mỗi năm. Bác sĩ không phải chuyên khoa Thận có thể theo dõi nhưng cần chuyển khám bác sĩ chuyên khoa Thận nếu albumin nước tiểu tăng lên hoặc MLCT giảm xuống, nhất là ở người <70 tuổi.
- Màu đỏ (G3a-bA3, G3b-4A2 và G4A1) tương ứng nguy cơ mức độ rất cao. Những người bệnh thuộc nhóm này cần được khám và xét nghiệm theo dõi ít nhất 3 lần mỗi năm và do bác sĩ chuyên khoa Thận theo dõi quản lý.
- Màu đỏ sẫm (G4-5A3 và G5A1-2) tương ứng nguy cơ ở mức cao nhất. Tất cả người bệnh thuộc nhóm này cần được bác sĩ chuyên khoa Thận theo dõi với tần suất khám và xét nghiệm tối thiểu 4 lần mỗi năm.
Những người bệnh tổn thương thận cấp cần nhập viện cần theo dõi chức năng thận và
tầm soát bệnh thận mạn trong ít nhất ba năm sau khi ra viện, kể cả khi chức năng thận
đã quay về mức nền.
Những trường hợp có tình trạng chưa ổn định cần cá thể hoá tần suất khám và xét nghiệm
tại mỗi lần khám bệnh, ví dụ khi đang điều chỉnh liều thuốc hạ áp, điều trị thiếu máu,
can thiệp dinh dưỡng, rà soát lại liều và danh mục thuốc, can thiệp ngoại khoa, nhiễm
trùng v.v… Cần thăm dò thêm để tìm nguyên nhân trong các trường hợp: thay đổi MLCT
>20% hoặc tăng gấp đôi UACR so với chỉ số của lần xét nghiệm trước, MLCT giảm quá
30% sau khi khởi trị bằng các thuốc có ảnh hưởng huyết động.
Đối với mọi người bệnh bị bệnh thận mạn giai đoạn 3-5, khuyến cáo sử dụng công thức tính nguy cơ đã
được kiểm định ngoài để ước tính nguy cơ suy thận tuyệt đối và nguy cơ tử vong do tim
mạch khi xác định cần chuyển chuyên khoa Thận, cần chăm sóc đa chuyên khoa hay cần
chuẩn bị điều trị thay thế thận, đồng thời xác định mục tiêu chăm sóc và các chiến lược
điều trị dự phòng cho người bệnh. Ngoài MLCT và UACR, có thể sử dụng chỉ số nguy cơ suy
thận sau 5 năm từ 3-5% làm cơ sở để chuyển người bệnh sang chuyên khoa Thận; nguy cơ suy
thận sau 2 năm >10% làm cơ sở để yêu cầu chăm sóc đa chuyên khoa. Không áp dụng
các công thức tính nguy cơ này cho người bệnh bị bệnh thận mạn giai đoạn 1-2.
CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
- Tổn thương thận cấp
- Hẹp động mạch thận
- Viêm mạch
- Viêm cầu thận tiến triển nhanh
Tài liệu tham khảo
- Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh thận mạn và một số bệnh lý thận. Số 2388/QĐ-BYT. 12/08/2024. Bộ Y Tế