GIỚI THIỆU
NGUYÊN NHÂN
Các yếu tố nguy cơ
- Tuổi cao
- Tiền sử đột quỵ
- Nghiện rượu
- Nghiện ma túy (cocaine, heroine)
Nguyên nhân
- Tăng huyết áp.
- Bệnh mạch máu não dạng bột(amyloidosis).
- Các bệnh rối loạn đông máu.
- Điều trị thuốc chống đông máu.
- Liệu pháp tiêu sợi huyết trong điều trị nhồi máu cơ tim cấp hoặc đột quỵ thiếu máu não cấp tính (có thể gây xuất huyết não).
- Dị dạng động tĩnh mạch, phình động mạch và các dị tật mạch máu khác (u tĩnh mạch và xoang hang).
- Viêm mạch.
- Khối tân sinh trong sọ.
CHẨN ĐOÁN
Khai thác tiền sử
- Cần thu thập một tiền sử đầy đủ, bao gồm thời gian khởi phát và tiến triển của các triệu chứng, đồng thời đánh giá các yếu tố nguy cơ và các nguyên nhân có thể.
- Chú ý khai thác tiền sử chấn thương của người bệnh ngay cả khi còn nhỏ.
Khám lâm sàng
Khám toàn thân
- Khi thăm khám bệnh nhân XHN cần ưu tiên đánh giá các dấu hiệu sinh tồn.
- Thực hiện khám toàn thân, tập trung vào đầu, tim, phổi, bụng, tứ chi và tiến hành khám thần kinh kỹ lưỡng nhưng nhanh chóng.
- Tăng huyết áp (đặc biệt HA tâm thu lớn > 220 mm Hg) thường gặp ở đột quỵ xuất huyết. Huyết áp cao đi kèm sốt nhiều thường phản ánh tổn thương thần kinh nặng, tiên lượng xấu.
Phát hiện các dấu hiệu thần kinh khu trú
- Liệt nửa người phải
- Mất cảm giác nửa người phải
- Nhìn sang trái
- Mất thị trường phải
- Thất ngôn
- Quên nửa thân bên liệt (không điển hình)
- Liệt nửa người trái
- Mất cảm giác nửa người trái
- Mắt nhìn sang phải
- Mất thị trường bên trái
- Nhân bèo: liệt nửa người bên đối diện, mất cảm giác bên đối diện, liệt vận động nhãn cầu bên đối diện, bán manh cùng bên, thất ngôn, quên nửa bên liệt, hoặc mất vận động tự chủ bên liệt.
- Đồi thị: mất cảm giác bên đối diện, liệt nửa người bên đối diện, liệt vận nhãn, bán manh cùng bên, co đồng tử, thất ngôn, hoặc nhầm lẫn.
- Xuất huyết thùy não: liệt, mất cảm giác nửa người bên đối diện, liệt vận nhãn bên đối diện, bán manh cùng bên, thất ngôn, quên nửa người bên liệt, hoặc mất vận động tự chủ bên liệt.
- Nhân đuôi: liệt nửa người bên đối diện, liệt vận nhãn, hoặc nhầm lẫn.
- Cuống đại não: liệt tứ chi, liệt mặt, giảm ý thức, liệt vận nhãn, co đồng tử.
- Tiểu não: liệt mặt, mất cảm giác; liệt vận nhãn, co đồng tử, hoặc giảm mức độ ý thức.
- Dáng đi hoặc vận động tay chân mất điều hòa
- Chóng mặt hoặc ù tai
- Buồn nôn và nôn
- Liệt nửa người hoặc liệt tứ chi
- Mất cảm giác nửa người hoặc mất cảm giác của cả 4 chi
- Bất thường vận nhãn dẫn đến nhìn đôi hoặc chứng rung giật nhãn cầu
- Suy giảm chức năng hầu họng hoặc khó nuốt
- Dấu hiệu bắt chéo (mặt cùng bên và cơ thể đối bên)
- Đột ngột đau đầu dữ dội
- Dấu hiệu màng não với gáy cứng
- Chứng sợ ánh sáng và đau khi cử động mắt
- Buồn nôn và nôn
- Ngất: kéo dài hoặc không điển hình
Cận lâm sàng
Chụp cắt lớp vi tính (CT) sọ não
- Đo đường kính lớn nhất (A) và đường kính vuông góc với nó (B).
- Đường kính C được tính bằng độ dày lát cắt của phim chụp nhân với số lát cắt quan sát thấy khối máu.
- A, B, C được đo theo cm.
- Thể tích khối máu V=ABC/2 có đơn vị cm3 hay mL.
Chụp cắt lớp vi tính mạch não (CT-A)
Chụp cộng hưởng từ (MRA) sọ não
ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA
Nguyên tắc chung
- Thuốc chống động kinh: dự phòng cơn co giật.
- Thuốc hạ áp: kiểm soát huyết áp và các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch.
- Lợi tiểu thẩm thấu: giảm áp lực nội sọ trong khoang dưới nhện.
Điều trị cụ thể
Kiểm soát cơn co giật
- Cơn co giật sớm xuất hiện ở 4-28% bệnh nhân xuất huyết não; đa số thường không phải là cơn động kinh.
- Các thuốc thường sử dụng thuộc nhóm benzodiazepin, như lorazepam hoặc diazepam. Có thể phối hợp liều nạp phenytoin hoặc fosphenytoin nhằm kiểm soát kéo dài.
Dự phòng động kinh
- Bệnh nhân xuất huyết thùy não, nhằm giảm nguy cơ co giật.
- Bệnh nhân xuất huyết dưới nhện do vỡ phình mạch.
Kiểm soát huyết áp
- Nếu huyết áp tâm thu >200 mmHg hoặc huyết áp trung bình > 150 mmHg: tiến hành hạ áp bằng thuốc truyền tĩnh mạch, theo dõi huyết áp mỗi 5 phút/lần.
- Nếu huyết áp tâm thu >180 mmHg hoặc huyết áp trung bình > 130 mmHg kèm theo tăng áp lực nội sọ: theo dõi áp lực nội sọ và hạ áp bằng thuốc truyền tĩnh mạch, duy trì áp lực tưới máu não ≥ 60 mmHg.
- Nếu huyết áp tâm thu >180 mmHg hoặc huyết áp trung bình > 130 mmHg và không có triệu chứng tăng áp lực nội sọ: hạ huyết áp tối thiểu (đích huyết áp 160/90 mmHg hoặc huyết áp trung bình 110 mmHg) bằng thuốc truyền tĩnh mạch, theo dõi tình trạng lâm sàng và huyết áp mỗi 15 phút.
- Đối với bệnh nhân xuất huyết dưới nhện do vỡ phình mạch, AHA/ASA 2012 khuyến cáo hạ huyết áp xuống dưới 160 mmHg để giảm nguy cơ chảy máu tái phát.
- Theo ACP (American College of Physicians) và AAFP (American Academy of Family Physicians) 2017: có thể xem xét khởi đầu điều trị cho bệnh nhân có huyết áp tâm thu ≥ 150 mmHg nhằm đưa về đích huyết áp < 150 mmHg, với mục tiêu giảm thiểu nguy cơ đột quỵ, các biến cố tim và tử vong.
| Các thuốc hạ huyết áp thường dùng theo đường tĩnh mạch |
|---|
| Labetalol 10 to 20 mg truyền TM 1-2 phút, có thể nhắc lại 1 lần; hoặc |
| Nicardipine 5 mg/h truyền TM, điều chỉnh liều 2.5 mg/h mỗi 5-15 phút, tối đa 15 mg/h cho đến khi đạt HA mục tiêu; chỉnh liều để đảm bảo huyết áp nằm trong giới hạn phù hợp; hoặc |
| Clevidipine 1-2 mg/h truyền TM, điều chỉnh liều tăng gấp đôi mỗi 2-5 phút, tối đa 21 mg/h cho đến khi đạt HA mục tiêu (khuyến cáo 2018 cho đột quỵ thiếu máu não); hoặc |
| Nếu huyết áp không kiểm soát được hoặc huyết áp tâm trương >140 mmHg thì cần chỉ định truyền tĩnh mạch sodium nitroprusside |
| Các thuốc khác (hydralazine, enalaprilat...) đều có thể sử dụng |
Kiểm soát áp lực nội sọ
- Nâng đầu cao 30 độ; không nằm nghiêng để cải thiện dòng trở về tĩnh mạch trung tâm, từ đó làm giảm áp lực nội sọ.
- Có thể cho an thần hoặc gây mê khi cần thiết.
- Sử dụng thuốc bảo vệ dạ dày để dự phòng loét dạ dày ở bệnh nhân XHN.
- Các điều trị hỗ trợ khác gồm: truyền mannitol hoặc muối ưu trương; gây mê bằng barbiturat; dùng thuốc ức chế thần kinh cơ; theo dõi liên tục áp lực nội sọ và huyết áp nhằm bảo đảm áp lực tưới máu não ≥ 70 mmHg.
Điều trị xuất huyết não liên quan tới thuốc chống đông
- Tiêm tĩnh mạch thuốc vitamin K.
- Truyền huyết tương tươi đông lạnh (FFP).
- Truyền phức hợp prothombin cô đặc (PCC).
- Truyền tĩnh mạch rFVIIa.
- Đối với bệnh nhân đang dùng heparin (trọng lượng phân tử thấp hoặc không phân đoạn) và xuất hiện xuất huyết não, cần tiêm protamin để trung hòa. Liều protamin phụ thuộc vào liều heparin và thời điểm cuối cùng đã dùng heparin trước đó.
- Bệnh nhân thiếu hụt nặng yếu tố đông máu có thể bị xuất huyết não tự phát, vì vậy cần truyền bổ sung các yếu tố thay thế.
Điều trị xuất huyết não liên quan đến thuốc kháng kết tập tiểu cầu
- Khuyến cáo AHA/ASA 2010 về xử trí xuất huyết não tự phát: chỉ truyền tiểu cầu khi xuất huyết não kèm giảm tiểu cầu nặng.
Phối hợp thuốc Statin
- Atorvastatin 10 - 40 mg/ngày.
- Rosuvastatin 10 - 20 mg/ngày.
ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT
- được phẫu thuật trong thời gian 8h sau khởi phát.
- thể tích khối máu tụ 20-50 ml.
- điểm Glasgow 9-12.
- ở độ tuổi 50-69 tuổi.
- Bệnh nhân có tụ máu trong nhu mô mà không có chảy máu não thất có thể can thiệp an toàn.
- Phẫu thuật có hiệu quả ở các bệnh nhân xuất huyết nhu mô não nếu đường kính khối máu tụ > 3cm, nhằm dự phòng tụt kẹt thân não.
ĐIỀU TRỊ CAN THIỆP NỘI MẠCH
Phình động mạch não
Thông động-tĩnh mạch não (AVM)
Rò động-tĩnh mạch màng cứng não (dAVF)
DẪN LƯU NÃO THẤT
- Dẫn lưu não thất thường được tiến hành khi xuất hiện não úng thủy do biến chứng xuất huyết gây chèn ép não thất ba hoặc não thất bốn.
- Dẫn lưu não thất có thể làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, bao gồm viêm màng não do vi khuẩn.
TIÊN LƯỢNG VÀ DỰ PHÒNG
Tiên lượng
- Đột quỵ xuất huyết quanh cuống não có tiên lượng tốt hơn.
- Sự hiện diện của máu trong não thất liên quan đến tỷ lệ tử vong cao hơn; trong một nghiên cứu, sự xuất hiện của máu trong não thất làm tăng tỷ lệ tử vong hơn 2 lần.
- Bệnh nhân bị xuất huyết nội sọ liên quan đến thuốc chống đông đường uống có tỷ lệ tử vong cao hơn và kết quả chức năng kém hơn.
Dự phòng
Điều trị tăng huyết áp
- AHA/ASA năm 2010 khuyến cáo rằng ở các bệnh nhân xuất huyết não tự phát không có chỉ định dùng thuốc hạ huyết áp thì vẫn cần kiểm soát huyết áp chặt chẽ, đặc biệt ở các bệnh nhân có vị trí xuất huyết não điển hình do tăng huyết áp. Đồng thời, khuyến cáo duy trì huyết áp mục tiêu < 140/90 mmHg để dự phòng cơn đột quỵ đầu tiên. Ở bệnh nhân tăng huyết áp kèm đái tháo đường hoặc bệnh thận, mục tiêu huyết áp < 130/80 mmHg. Các nhóm thuốc hạ áp gồm: lợi tiểu thiazid, chẹn kênh canxi, ức chế men chuyển và ức chế thụ thể. Các bệnh nhân đái tháo đường sử dụng ức chế men chuyển/ức chế thụ thể được khuyến cáo IA theo AHA/ASA 2011. Chẹn beta giao cảm được xếp ở hàng thứ 2 do tác dụng dự phòng các biến cố mạch máu thấp hơn, mặc dù tác dụng hạ áp tương đương.
- Mặc dù statin được khuyến cáo dự phòng đột quỵ thiếu máu tiên phát (mức bằng chứng IA), đặc biệt khi có kèm thêm các yếu tố nguy cơ khác, một số nghiên cứu cho thấy có thể tăng nguy cơ xuất huyết não khi dùng statin. Tuy nhiên, phân tích meta-analysis trên 31 thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát cho thấy điều trị statin không liên quan đến tăng có ý nghĩa xuất huyết não.
- Trong nghiên cứu HOPE (Heart Outcomes Prevention Evaluation), việc thêm ramipril vào các điều trị nội khoa khác (bao gồm kháng kết tập tiểu cầu) làm giảm nguy cơ tương đối đột quỵ, tử vong và nhồi máu cơ tim 32% so với giả dược. Chỉ 40% hiệu quả của ramipril đến từ tác dụng hạ áp; phần còn lại liên quan đến các cơ chế bảo vệ nội mạc.
- Nghiên cứu PROGRESS (Perindopril Protection Against Recurrent Stroke Study) cho thấy perindopril có tác dụng vượt trội so với placebo. Mặc dù bản thân thuốc không ưu thế hơn, khi kết hợp với indapamid có thể làm giảm đột quỵ tái phát; phần lớn hiệu quả này đến từ tác dụng hạ áp, ngược với kết quả của nghiên cứu HOPE về ramipril.
- Nghiên cứu ALLHAT (Antihypertensive and Lipid-Lowering Treatment to Prevent Heart Attack Trial) cho thấy chlorthalidone hiệu quả hơn một chút so với lisinopril trong dự phòng đột quỵ.
- Nghiên cứu LIFE (Losartan Intervention for Endpoint Reduction in Hypertension Study) chứng minh ức chế thụ thể (losartan) làm giảm nguy cơ đột quỵ ưu thế hơn so với chẹn beta giao cảm (atenolol).
- Nghiên cứu MOSES (Morbidity and Mortality after Stroke, Eprosartan Compared With Nitrendipine for Secondary Prevention) cho thấy eprosartan ưu thế hơn so với chẹn kênh canxi nitrendipin trong dự phòng thứ phát đột quỵ và tai biến mạch não thoáng qua. Nghiên cứu này tương đối nhỏ và phần lớn các biến cố thuộc nhóm tai biến mạch não thoáng qua.
Biện pháp dự phòng không dùng thuốc
- Ngừng hút thuốc; chế độ ăn ít chất béo; giảm cân; hạn chế ăn muối; tăng cường chế độ ăn giàu kali nhằm giảm huyết áp có tác dụng dự phòng. Ngừng uống rượu, bia vì làm tăng nguy cơ xuất huyết não.
- Tập thể dục là biện pháp không dùng thuốc được khuyến khích rất mạnh mẽ. Người bình thường nên tập thể dục với cường độ trung bình ít nhất 150 phút mỗi tuần; biện pháp này đã được AHA/ASA nhấn mạnh từ năm 2011.
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG SAU ĐỘT QUỴ
Những khiếm khuyết cần phục hồi chức năng
- Liệt hoặc các vấn đề về vận động.
- Rối loạn cảm giác.
- Vấn đề ngôn ngữ và chữ viết.
- Vấn đề về tư duy và trí nhớ.
- Rối loạn cảm xúc.
PHỤ LỤC
Xử trí cấp cứu chảy máu nặng liên quan đến thuốc chống đông kháng vitamin K
| A. Nếu có phức hợp tủa yếu tố 4 prothrombin [4-factor prothrombin complex concentrate (4F PCC)]: |
|---|
| 1. Truyền 4F PCC * 1500-2000 U ¶ trong 10 minutes. Kiểm tra INR 15 phút sau khi kết thúc truyền; nếu INR không ≤1.5 thì truyền bổ sung. |
| 2. Tiêm vitamin K 10 mg tĩnh mạch chậm. |
| B. Nếu chỉ có 3F PCC mà không có 4F PCC: |
| 1. Truyền tĩnh mạch 3F PCC * 1500 - 2000 U ¶ IV trong 10 phút. Kiểm tra INR 15 phút sau khi kết thúc truyền; nếu INR không ≤1.5 thì truyền bổ sung 3F PCC. |
| 2. Truyền tĩnh mạch yếu tố VIIa 20 mcg/kg hoặc truyền tĩnh mạch nhanh 2 đơn vị FFP. Yếu tố VIIa có thể là lựa chọn tốt nếu bệnh nhân thừa dịch. |
| 3. Tiêm tĩnh mạch vitamin K 10 mg trong vòng 10-20 phút. |
| C. Nếu có cả 3F PCC và 4F PCC: |
| 1. Truyền tĩnh mạch nhanh 2 đơn vị FFP. Kiểm tra INR sau kết thúc truyền 15 phút; nếu INR ≥1.5, truyền nhanh thêm 2 đơn vị. Nhắc lại cho đến khi INR ≤1.5. Có thể dùng lợi tiếu giữa các lần truyền nếu có dấu hiệu quá tải dịch. |
| 2. Tiêm tĩnh mạch vitamin K 10 mg trong vòng 10 – 20 phút. |
Những chế phẩm này và liều lượng nêu trên chỉ sử dụng khi chảy máu nặng đe dọa tính mạng bệnh nhân. Cần nhận diện các dấu hiệu chảy máu nặng và quá liều thuốc chống đông kháng vitamin K (ví dụ warfarin). Phản ứng phản vệ và truyền máu có thể xảy ra.
Nên rã đông 4 đơn vị huyết tương tươi đông lạnh (FFP) trong khi chờ kết quả PT/INR.
Đơn vị trữ máu có thể thay thế FFP bằng các chế phẩm huyết tương khác như PF24 vì các chế phẩm này có thể thay thế lẫn nhau trên lâm sàng. PCC có thể đảo ngược tác dụng chống đông của thuốc trong vài phút khi sử dụng; FFP có thể phải truyền hàng giờ để tránh tăng thể tích đột ngột; vitamin K có hiệu quả sau 12-24h nhưng khi dùng vitamin K cần cân nhắc nửa đời sống (half-life) của warfarin. Sau đó theo dõi PT/INR tiếp tục điều trị.
* Trước khi sử dụng, kiểm tra tên chế phẩm (3 hoặc 4 yếu tố) và nồng độ. Các chế phẩm phức hợp hoạt hóa và các chế phẩm chỉ chứa yếu tố IX (như FEIBA, AlphaNine, Mononine, Immunine, BeneFix) không dùng để đảo ngược tác dụng của warfarin.
¶ PCC là chế phẩm được ưu tiên hàng đầu trong hoàn cảnh cấp cứu. Điều trị căn cứ vào INR và cân nặng bệnh nhân.
Tài liệu tham khảo
- Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí đột quỵ não. Số 5331/QĐ-BYT. 2020. Bộ Y Tế