Bệnh thận mạn: Điều trị giai đoạn tiền lọc máu

Post key: ea533513-d9b4-5e13-af6c-2097a87bb22b
Slug: benh-than-man-đieu-tri-giai-doan-tien-loc-mau
Excerpt: Bệnh thận mạn giai đoạn tiền lọc máu: hướng dẫn chuẩn bị trước khi bắt đầu điều trị thay thế thận (lọc thận nhân tạo, lọc màng bụng, ghép thận). Bài viết nêu mục tiêu của giai đoạn tiền lọc máu, cách cá thể hóa thời điểm chuyển chuyên khoa và thời điểm khởi đầu điều trị thay thế thận, cũng như kế hoạch chuẩn bị theo 5 bước: xác định BN tiến triển đến giai đoạn cuối; bảo vệ mạch máu chi trên; tư vấn–giáo dục–hỗ trợ chọn phương thức điều trị phù hợp (kèm tiêm phòng viêm gan B); tạo đường lọc máu; và khởi đầu lọc máu. Ngoài ra, trình bày điều trị bảo tồn nội khoa tích cực và chăm sóc hỗ trợ cho các BN từ chối/không phù hợp điều trị thay thế, gồm các nội dung kiểm soát biến chứng (thiếu máu, tăng phosphate, tăng kali, toan chuyển hóa, quá tải dịch…), nguyên tắc y đức khi ra quyết định và thảo luận với người bệnh–gia đình. Tham chiếu: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh thận mạn và một số bệnh lý thận, Số 2388/QĐ-BYT, 12/08/2024 (Bộ Y Tế).
Recognized tags: dieu-tri, bo-y-te, danh-cho-sinh-vien

GIỚI THIỆU

Giai đoạn tiền lọc máu bao gồm các công việc cần thực hiện trước khi bắt đầu điều trị thay thế thận. Công tác chuẩn bị nhằm tối ưu hóa quá trình điều trị thay thế thận được triển khai theo 5 bước; trong đó bước 2 và bước 3 có thể tiến hành đồng thời.
  • Bước 1: Xác định bệnh nhân (BN) bệnh thận mạn (BTM) sẽ tiến triển đến giai đoạn cuối.
  • Bước 2: Bảo vệ hệ thống mạch máu chi trên. Chuẩn bị đường vào mạch máu sớm để phòng tránh tình trạng phải lọc máu cấp cứu qua catheter tĩnh mạch trung tâm.
  • Bước 3: Tư vấn, giáo dục và hỗ trợ BN lựa chọn phương thức điều trị thay thế thận phù hợp.
  • Bước 4: Tạo đường lọc máu.
  • Bước 5: Khởi đầu lọc máu.

NGUYÊN TẮC CHUNG

Một số định nghĩa

  • Giai đoạn tiền lọc máu là giai đoạn ngay trước khi bắt đầu điều trị thay thế thận nhằm chuẩn bị cho BN. Nên triển khai chuẩn bị điều trị thay thế thận từ giai đoạn 4 (khi MLCT < 30ml/phút/1,73 m2, đồng thời cũng là giai đoạn BN BTM cần được chuyển cho bác sĩ chuyên khoa (BSCK) Thận quản lý). Việc chuẩn bị phải được bắt đầu từ giai đoạn 5, khi MLCT < 15ml/phút/1,73 m2.
  • Điều trị thay thế thận là điều trị thay thế cho các chức năng đã mất ở BN suy thận (giai đoạn cuối), khi điều trị nội khoa và tiết chế không còn đủ hiệu quả và tính mạng BN bị đe dọa. Điều trị thay thế thận bao gồm 3 biện pháp: lọc thận nhân tạo (TNT), lọc màng bụng và ghép thận.
  • Lọc máu cấp cứu là lọc máu được bắt đầu ngay lập tức hoặc trong vòng 48 giờ sau khi xuất hiện triệu chứng để điều chỉnh các tình trạng đe dọa tính mạng.
  • Lọc máu không cấp cứu là lọc máu có thể được bắt đầu sau 48 giờ kể từ khi xuất hiện các triệu chứng nặng cần can thiệp.
  • Lọc máu có kế hoạch là trường hợp BN đã được tư vấn lựa chọn phương thức lọc máu và đã chuẩn bị sẵn đường vào mạch máu để có thể sử dụng ngay khi bắt đầu lọc máu.
  • Lọc máu không kế hoạch là trường hợp bắt đầu lọc máu khi chưa có đường vào mạch máu sẵn để sử dụng khi cần lọc máu; BN cần nhập viện hoặc phải khởi đầu bằng phương thức không phải là lựa chọn của BN.

Thời điểm khởi đầu điều trị thay thế thận

  • Thời điểm khởi đầu điều trị thay thế thận cần được cá thể hóa dựa trên mức lọc cầu thận (MLCT), tốc độ suy giảm MLCT, biểu hiện lâm sàng và xét nghiệm, cùng với nguyện vọng và hoàn cảnh của BN. Đồng thời cần có giai đoạn chuyển tiếp từ giai đoạn 5 của BTM đến thời điểm bắt đầu điều trị thay thế thận suy nhằm giảm tỷ lệ biến chứng và tử vong ở giai đoạn đầu tiên của điều trị.

  • Thông thường, BN được chỉ định điều trị thay thế thận suy khi MLCT giảm tới 5 - 7ml/phút/1,73m2, kể cả khi chưa có triệu chứng lâm sàng.
  • Cân nhắc bắt đầu lọc máu khi xuất hiện triệu chứng hoặc dấu hiệu suy thận nặng: hội chứng urê máu cao, viêm màng ngoài tim, rối loạn toan kiềm hoặc điện giải không đáp ứng với điều trị nội khoa, quá tải thể tích tuần hoàn hoặc tăng huyết áp (THA) khó kiểm soát; ngứa, khuynh hướng dễ chảy máu; chán ăn, giảm cân và tình trạng dinh dưỡng xấu đi.

  • Cần thảo luận với BN về các lựa chọn điều trị, bao gồm cả điều trị nội khoa và điều trị thay thế thận; điều trị tốt các nguy cơ tổn thương thận cấp (TTTC) hoặc tránh làm nặng thêm các bệnh lý khác. Cần có sự phối hợp giữa người bệnh, cơ sở y tế và bảo hiểm y tế.
  • Cần xây dựng chương trình tư vấn chuẩn bị tiền lọc máu, lựa chọn phương pháp lọc máu và cá thể hóa phù hợp với từng bệnh nhân.

Thời điểm chuyển chuyên khoa thận theo dõi

MỤC TIÊU ĐIỀU TRI

Vai trò và lợi ích của giai đoạn tiền lọc máu

Giai đoạn tiền lọc máu mang lại nhiều lợi ích, chủ yếu nhờ giảm hậu quả của việc khởi đầu điều trị thay thế thận suy quá muộn. Giai đoạn này có vai trò giúp:
  • Tạo điều kiện để BN được khởi đầu lọc máu trong điều kiện sức khỏe tối ưu.
  • Giảm số BN phải nhập viện để lọc máu cấp cứu.
  • Giảm số BN lọc máu cấp cứu do tăng quá cao urê, creatinine huyết thanh.
  • Giảm số BN phải sử dụng đường vào mạch máu tạm thời (làm tăng nguy cơ tử vong).

Mục tiêu của giai đoạn tiền lọc máu

  • Điều trị các biến chứng liên quan suy thận mạn.
  • Bảo tồn chức năng thận và thể tích nước tiểu tồn dư cho BN.
  • Giáo dục, hướng dẫn BN chọn lựa phương pháp điều trị thay thế thận thích hợp.
  • Chuẩn bị tạo đường vào mạch máu dài hạn cho BN chọn TNT.
  • Huấn luyện thao tác lọc màng bụng nếu BN chọn lọc màng bụng.
  • Tiêm phòng viêm gan virus B.
Để thực hiện các mục tiêu này, cần đảm bảo:
  • Mọi BN BTM giai đoạn cuối cần được 1 nhóm nhiều chuyên khoa chăm sóc.
  • Nhóm nhiều chuyên khoa phải tư vấn về thay đổi lối sống (chế độ dinh dưỡng, vận động hợp lý, bỏ hút thuốc), đồng thời thực hiện giáo dục và tư vấn các phương pháp điều trị thay thế thận; tạo đường vào mạch máu dài hạn để lọc máu; chăm sóc và điều trị các rối loạn tâm thần kinh, trầm cảm, lo âu.
  • Các BN được lên lịch tái khám định kỳ, theo dõi lâm sàng và xét nghiệm, tầm soát và điều trị các bệnh lý tim mạch đi kèm và các bệnh lý khác như thiếu máu.

ĐIỀU TRỊ CỤ THỂ

Những việc cần làm trong giai đoạn tiền lọc máu

  • Công tác chuẩn bị tối ưu cho điều trị thay thế thận được triển khai theo 5 bước; riêng các bước 2 và 3 có thể thực hiện đồng thời.

Bước 1: Xác định BN bệnh thận mạn sẽ tiến triển đến giai đoạn cuối

Không phải mọi BN bệnh thận mạn giai đoạn 4 (MLCT 15-29ml/phút/1,73 m2) đều tất yếu tiến đến giai đoạn cuối và sẽ phải lọc máu. Đồng thời, trong nhóm này vẫn có một tỷ lệ BN tử vong trước khi bắt đầu lọc máu. Do đó, việc chuẩn bị điều trị thay thế thận cho tất cả BN chỉ dựa vào tiêu chí MLCT < 30ml/phút/1,73 m2 là không phù hợp.

Ngoài ngưỡng MLCT <30ml/phút/1,73 m2, BN cần có ít nhất 1 yếu tố nguy cơ nêu trong bảng sau: tiếp cận phát triển chương trình tư vấn và giáo dục cho BN mắc BTM (mục được triển khai ở phần dưới).

Các yếu tố nguy cơ tiến triển suy thận giai đoạn cuối
  1. Trẻ tuổi
  2. Giảm chức năng thận theo thời gian
  3. Có albumin niệu
  4. Có bệnh cầu thận (nguyên phát hoặc thứ phát do đái tháo đường, bệnh mạch thận)
  5. Tăng huyết áp
  6. Có biến chứng của BTM (như tăng phosphate máu và/ hoặc thiếu máu)

Trên thực tế, không thể chỉ dựa vào 1 yếu tố để dự đoán BN bệnh thận mạn giai đoạn 4-5 sẽ tiến triển đến BTGĐC. Do đó, cần đánh giá và cân nhắc từng BN bệnh thận mạn giai đoạn 4-5 dựa trên các dữ kiện nhân trắc, lâm sàng và cận lâm sàng nhằm bảo đảm chuẩn bị tối ưu cho BN trước khi đến giai đoạn lọc máu.

Bước 2: Bảo vệ các mạch máu chi trên

Tiến hành chuẩn bị đường vào mạch máu sớm để giảm nguy cơ phải bắt đầu lọc máu cấp cứu bằng catheter TM trung tâm.

  • Bắt đầu bước 2 khi MLCT 20-30ml/phút/1,73 m2.
  • Bắt đầu chuẩn bị điều trị thay thế thận ngay sau khi BN đã lựa chọn phương thức điều trị thay thế thận phù hợp tối ưu. Khi MLCT <15-20ml/phút/1,73m2 hoặc nguy cơ cần điều trị thay thế có thể ước tính là >40% trong vòng 2 năm, cần lập kế hoạch ghép thận đón đầu (preemptive kidney transplantation) nếu BN có người hiến tạng sống sẵn sàng, hoặc lập kế hoạch/xếp lịch tạo đường vào lọc máu.
  • Thông thường cần khoảng 3 tháng để tư vấn và giáo dục cho BN về chỉ định lọc máu, suy nghĩ và quyết định chọn phương thức điều trị tối ưu phù hợp. Thời gian để thông động tĩnh mạch và mạch trưởng thành cũng khoảng 2-3 tháng. Cần dự trữ đủ thời gian để tạo đường vào, chờ mạch trưởng thành và có kế hoạch sửa chữa nếu cần thiết.
  • Đối với BN chọn TNT, cần hạn chế tối đa tiêm truyền ở các tĩnh mạch từ cổ tay trở lên ở chi trên. Không xẻ tĩnh mạch và không đặt catheter vào các tĩnh mạch tại bàn tay. Hạn chế đặt catheter TM trung tâm, vì có thể gây huyết khối và chít hẹp tĩnh mạch trung tâm.

Bước 3: Tư vấn, giáo dục và hỗ trợ BN lựa chọn phương pháp điều trị thay thế thận phù hợp

  • Giáo dục và tư vấn cho BN bệnh thận mạn nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe, giảm số lần nhập viện, giảm tử vong và giảm biến chứng.
Tiếp cận phát triển chương trình tư vấn và giáo dục cho BN mắc BTM
Mục tiêu Cụ thể
Khởi đầu chương trình giáo dục Khởi đầu khi MLCT<30ml/phút/1,73 m2. Cần bao gồm cả những BN được chuyển muộn, BN đã khởi đầu chạy TNT mà chưa có BSCK Thận chăm sóc
Người dẫn chương trình Người giáo dục về BTM (BSCK Thận, Điều dưỡng), chuyên gia dinh dưỡng và nhân viên y xã hội
Thính giả Bệnh nhân và người nhà và/ hoặc người chăm sóc BN, trao đổi 1-1 hoặc trong 1 lớp học
Nội dung giáo dục Thảo luận về BTM, giải thích về các xét nghiệm đánh giá chức năng thận, biến chứng của BTM, các can thiệp để làm chậm tốc độ giảm chức năng thận, tầm quan trọng của việc bảo vệ mạch máu chi trên cho lọc máu, những phương thức lọc máu và ảnh hưởng của từng phương thức lên đời sống, ghép thận; thay đổi chế độ ăn theo giai đoạn của BTM; thời điểm tạo đường vào, mức chi trả của bảo hiểm y tế và các vấn đề cần quan tâm trong chi phí, các hướng dẫn khác
Số lần tập huấn/đối tượng Thường 3-6 lần
Sử dụng nguồn lực xã hội minh họa Chia sẻ thông tin từ các BN đang lọc máu hoặc đã từng lọc máu, ghép thận; tham quan đơn vị lọc máu
Hỗ trợ cho việc ra quyết định Hỗ trợ BN chọn phương thức lọc máu thích hợp nhất với cuộc sống và vượt qua những lo lắng của lọc máu; Thảo luận về các chọn lựa bao gồm lọc máu, ghép thận, và điều trị bảo tồn nội khoa tối ưu không lọc máu

  • Tiêm phòng viêm gan virus B.
  • Cần hướng dẫn BN tiêm vaccin phòng viêm gan virus B trước khi phải bắt đầu lọc máu để tăng đáp ứng sinh miễn dịch. Tỷ lệ có đáp ứng với vaccin ở BN BTGĐC thấp hơn so với người không suy thận, với hiệu giá kháng thể thấp hơn và thời gian duy trì kháng thể ở mức bảo vệ ngắn hơn. Cần đánh giá và duy trì kháng thể anti-HBs >10IU/L. Xem thêm Phác đồ tiêm vaccin và đánh giá đáp ứng cụ thể ở “Dự phòng nhiễm trùng ở BN có BTM” xem thêm: Điều trị bảo tồn chức năng thận.

Bước 4: Tạo đường lọc máu

  • Thận nhân tạo.
  • Thông động tĩnh mạch (AVF) là đường vào tối ưu và được xem là lựa chọn đầu tay, tuy nhiên tỷ lệ thành công và tỷ lệ trưởng thành không đạt 100%, đồng thời thời gian chờ mạch trưởng thành dài (tối thiểu 4-6 tuần). Cầu nối động tĩnh mạch bằng đoạn mạch nhân tạo (AVG), tự thân hoặc đồng loài có tỷ lệ thành công cao hơn và thời gian chờ để sử dụng ngắn hơn (2-3 tuần), nhưng đời sống ngắn hơn và chi phí cao hơn nhiều. Cần chủ động tạo đường vào mạch máu dài hạn cho BN chọn TNT nhằm giảm thiểu việc phải đặt catheter tĩnh mạch trung tâm (CVC).
  • Trước khi tạo đường vào mạch máu cần khảo sát mạch chi bằng siêu âm và vẽ sơ đồ mạch máu, đo kích thước mạch và lưu lượng máu trước phẫu thuật để tăng tỷ lệ thành công. Catheter tĩnh mạch trung tâm có thể là đường vào mạch máu tạm thời trong giai đoạn chờ mạch máu trưởng thành hoặc khi bị tắc; đồng thời cũng có thể được sử dụng như đường vào dài hạn khi không tạo được hoặc chống chỉ định tạo đường vào mạch máu ngoại vi.
  • Lọc màng bụng.
  • Đặt catheter lọc màng bụng trước khi khởi đầu điều trị ít nhất 2-4 tuần để có đủ thời gian cho vết thương lành, giúp hạn chế rò dịch lọc và có thời gian huấn luyện BN. Trong thời gian chờ đợi, nếu cần lọc máu khẩn cấp, có thể đặt catheter đường hầm để lọc TNT. Trường hợp kỹ thuật lọc màng bụng thất bại, BN thường chuyển sang lọc TNT nhưng chưa có sẵn đường vào. Do đó, cần tạo AVF/AVG sớm nhất và đặt catheter đường hầm để lọc máu trong thời gian chờ.

Bước 5: Khởi đầu lọc máu

Xem thêm mục thời điểm khởi đầu điều trị thay thế thận (lọc máu) ở trên.

  • Khi điều trị nội khoa và chế độ ăn kiêng không còn hiệu quả, đe dọa tính mạng BN, cần bắt đầu điều trị thay thế thận. Thời điểm khởi đầu điều trị thay thế thận phải cân bằng giữa việc kéo dài thời gian chưa lọc máu và sự xuất hiện các biến chứng của hội chứng urê máu cao, nhằm tối ưu hóa chất lượng cuộc sống của BN.

Điều trị bảo tồn nội khoa tích cực và chăm sóc hỗ trợ

Chỉ định điều trị bảo tồn nội khoa tích cực và chăm sóc hỗ trợ cho các BN từ chối điều trị thay thế thận, hoặc khi điều trị thay thế thận không khả thi hoặc không phù hợp

Cần tìm hiểu nguyên nhân BN từ chối điều trị thay thế thận và đồng thời xem xét các giải pháp trước khi đưa ra quyết định không lọc máu. Các BN lựa chọn điều trị bảo tồn thường là người lớn tuổi, có nhiều bệnh đồng mắc, khả năng hoạt động chức năng kém hoặc không thể tiếp cận dịch vụ y tế tại các nước có thu nhập thấp và trung bình.

Cần cân nhắc hài hòa giữa việc kéo dài thời gian sống thêm và việc giảm chất lượng cuộc sống khi lọc máu, đặc biệt ở người cao tuổi hoặc rất cao tuổi.

Chăm sóc hỗ trợ thận bao gồm các dịch vụ nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho BN bị BTM, ở mọi lứa tuổi, trong suốt thời gian mắc bệnh, bất kể tuổi thọ.

Những đối tượng ưu tiên chọn điều trị bảo tồn thay cho điều trị thay thế thận là những BN có nguy cơ cần nhập viện hoặc tử vong cao khi khởi đầu điều trị lọc máu.

  • BN có 1 hoặc nhiều bệnh đồng mắc với nguy cơ tử vong cao (như suy tim, suy gan giai đoạn cuối hoặc bệnh lý ác tính tiển triển lan rộng).
  • BN suy kiệt nặng kèm suy giảm khả năng nhận thức hoặc suy giảm chức năng vận động.
  • BN đang điều trị lâu ngày tại các đơn vị chăm sóc điều dưỡng.
  • BN có các triệu chứng tâm thần hoặc bệnh về thể chất nặng, không hồi phục.
  • BN có rối loạn tâm thần không hồi phục, ảnh hưởng đến hiểu biết và hợp tác trong quá trình lọc máu, khiến lọc máu trở nên không an toàn cho BN và ảnh hưởng đến môi trường lọc máu, đặc biệt khi BN cần sử dụng các thuốc tâm thần trong quá trình lọc máu.
  • BN sống đời sống thực vật.

Nguyên tắc y đức căn bản trong đánh giá và can thiệp chăm sóc hỗ trợ thận

  • Mọi hoạt động phải hướng tới lợi ích của BN, bảo vệ quyền lợi của BN, ngăn chặn các tác hại ảnh hưởng đến BN, đồng thời không làm hại BN.
  • Theo ý nguyện của BN, dựa trên châm ngôn “Mỗi con người trưởng thành và tâm trí lành mạnh có quyền quyết định điều gì sẽ xảy ra và được thực hiện với cơ thể của chính mình”.
  • Không làm hại BN: lựa chọn phương pháp điều trị tối ưu, tránh các can thiệp không cần thiết hoặc làm nặng thêm tình trạng bệnh của BN.
  • Đảm bảo tính công bằng trong chăm sóc BN.

BS điều trị cần giải thích và thảo luận với BN và gia đình, người giám hộ, cùng những thành viên quan trọng trong nhóm chăm sóc như BSCK Thận, điều dưỡng, nhân viên Y Xã hội, và chuyên viên chăm sóc giảm nhẹ.

Thời điểm thảo luận là thời điểm lựa chọn để chuẩn bị lọc máu, thường vào giai đoạn khi MLCT < 20-30ml/phút/1,73 m2.

Quyết định từ chối lọc máu và chọn điều trị bảo tồn dựa trên:

  1. Ý nguyện của BN và gia đình, trên cơ sở chủ động tìm hiểu về cả 2 liệu pháp lọc máu và điều trị bảo tồn.
  2. Tiên lượng về lâm sàng của các chuyên gia liên quan, dựa trên các thang điểm để ước đoán nguy cơ tử vong của BN từ các nghiên cứu trong trường hợp BN từ chối lọc máu.

Các bước tiến hành trong thảo luận với BN và gia đình BN

  • Cung cấp thông tin: về tình trạng sức khỏe hiện tại của BN, về các phương thức điều trị và các nội dung BN cần quyết định.
  • So sánh các phương thức: cung cấp thông tin chính xác về ưu nhược điểm, sự giống nhau và khác nhau giữa các phương thức điều trị.
  • Quan điểm cá nhân: xây dựng quan điểm của từng cá nhân về từng phương thức theo từng trường hợp cụ thể.
  • Đánh đổi: hỗ trợ BN cân nhắc những gì cần đánh đổi dựa trên ưu và nhược điểm của từng phương thức.
  • Quyết định: hỗ trợ BN lựa chọn phương thức mà BS đánh giá là tốt nhất cho họ.

Nội dung nguyên tắc của điều trị hỗ trợ thận ở BN BTGĐC

Việc triển khai điều trị cần điều chỉnh theo từng bệnh nhân nhằm bảo đảm chất lượng sống của BN BTGĐC trong suốt thời gian còn lại.
  • Với BN tiên lượng sống tốt và chất lượng sống có thể chấp nhận được (thường là BN khỏe hơn và ít có bệnh nền): điều trị bao gồm thuốc làm chậm tốc độ tiến triển bệnh thận và thuốc điều trị các biến chứng của bệnh thận.
  • Với BN tiên lượng và chất lượng cuộc sống kém: chủ yếu tập trung điều trị triệu chứng (những triệu chứng BN than phiền) và chuẩn bị cho giai đoạn chấm dứt cuộc sống.
  • Với BN không thể tiên lượng và không rõ chất lượng cuộc sống: ưu tiên điều trị nhằm kéo dài thời gian sống còn lại và điều trị triệu chứng.
Trước mọi can thiệp, cần đánh giá toàn diện bệnh nhân về bệnh lý thận và các bệnh đồng mắc dựa trên lâm sàng, cận lâm sàng; có thể sử dụng thêm các thang điểm đánh giá đã được dùng cho giai đoạn này, ví dụ thang điểm ESAS-r:renal (Edmonton Symptom Assessment SystemRevised- Renal). Thang điểm này đánh giá mức độ 12 triệu chứng gồm: đau, khả năng hoạt động, buồn nôn, trầm cảm, lo lắng, ngủ gà, sự thèm ăn, cảm giác khỏe khoắn, khó thở, ngứa, ngủ và hội chứng chân không yên; thang điểm được chấm theo mức từ 0-10.

Nội dung cụ thể của chăm sóc hỗ trợ thận

  • Làm chậm quá trình mất chức năng thận: cân nhắc liều và có thể ngừng các thuốc ức chế hệ RAA (thuốc ƯCMC hoặc ƯCTT angiotensin II) nhằm giảm nguy cơ tăng kali máu và cải thiện MLCT ở BN BTGĐC. Nếu đã khởi đầu thuốc ức chế SGLT2 từ khi MLCT ≥ 20ml/phút/1,73m2, tiếp tục duy trì đến giai đoạn cuối.
  • Kiểm soát huyết áp: tránh các bất lợi do huyết áp tăng cao (như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim) và đồng thời bảo tồn chức năng thể chất, nhận thức cũng như chất lượng cuộc sống. Tránh tình trạng hạ huyết áp gây té ngã, chóng mặt, mệt và rối loạn nhận thức. Khuyến cáo duy trì HA ≤150/90 mmHg.
  • Điều trị thiếu máu nhằm cải thiện mệt mỏi, giảm suy tim và hạn chế truyền máu: sử dụng erythropoietin và sắt; mục tiêu Hb 11g/dL.
  • Điều trị tăng phosphate máu: dùng thuốc gắn phosphate và hạn chế thực phẩm giàu phosphate. Sử dụng Vitamin D dạng hoạt tính với liều thấp để điều trị mệt, yếu cơ, mất cơ và giảm nguy cơ gãy xương.
  • Hạn chế protein đưa vào: 0,8g/Kg/ngày trở xuống ở BTM G3-5, khuyến cáo mức 2C. Bổ sung keto-analog khi lượng protein đưa vào rất thấp (<0,4g/Kg/ngày). Việc hạn chế protein quá mức có thể không cần thiết ở những BN đang được chăm sóc giảm nhẹ vì đa số đã suy kiệt nặng. Hạn chế các thực phẩm làm tăng kali máu và giảm NaCl xuống < 5g/ngày. Chế độ ăn kiêng cần cá thể hóa theo các triệu chứng liên quan, ví dụ: hạn chế phosphor khi BN có hội chứng chân không yên, ngứa do urê máu cao, tăng lắng đọng Canxi và phospho ở BN đau cơ, giả gout.
  • Điều chỉnh toan chuyển hóa: điều trị bằng bicarbonate uống và chỉnh liều để đạt mục tiêu HCO3 ≥ 23mmol/L.
  • Điều trị tăng kali máu: giảm liều hoặc ngừng các thuốc có thể gây tăng kali như nhóm ức chế hệ RAA. Nếu tăng kali máu kéo dài, cần điều chỉnh chế độ ăn và dùng thuốc trao đổi cation đường uống như sodium polystyrene sulfonate, calcium polystyrene sulfonate, polymer gắn calcium trao đổi kali thế hệ mới hoặc muối silicate của nguyên tố zirconium, các thuốc này có vai trò cố định kali ở đường tiêu hóa.
  • Lợi tiểu và hạn chế nước để kiểm soát quá tải dịch: thực hiện tùy theo lượng nước tiểu.
  • Điều trị triệu chứng: bao gồm giảm đau, ngứa, nôn và buồn nôn, khó thở, co giật…

Tài liệu tham khảo

  1. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh thận mạn và một số bệnh lý thận. Số 2388/QĐ-BYT. 12/08/2024. Bộ Y Tế.