GIỚI THIỆU
THĂM KHÁM LÂM SÀNG HÔ HẤP
Nhìn
Khó thở
Hình dạng lồng ngực, nở rộng thành ngực và đối xứng
Màu sắc da
Tần số hô hấp (tần số thở)
Nhịp hô hấp (nhịp thở)
Kiểu thở
Công thở
| Bảng 5.1: Các dấu hiệu lâm sàng của gia tăng công thở |
|---|
| Các dấu hiệu đặc hiệu |
| Từ thế ngồi/ hoặc chồm về trước (xem Hình. 5.1) |
| Không khả năng nói thành câu đầy đủ liên tục (đếm 1 hơi từ 1 đến 10) |
| Phải gắng sức và dùng lực để hít vào và thở ra |
| (Rung giật) sử dụng các cơ hô hấp phụ (cơ thang, cơ ức đòn chủm, cơ cánh mũi; Hình. 5.8) |
| Hai tay chống lên gối/ đùi (tư thế 3 chân) (xem Hình. 5.1) |
| Co rút khoảng liên sườn, thượng đòn, hạ đòn (Hình. 5.8) |
| Cánh mũi phập phồng |
| Nâng cao vai về phía đầu đồng vận cùng với thì hít vào (Hình. 5.9) |
| Nâng cao của lông mày và mí mắt đồng bộ với thì hít vào |
| Co rút (hướng xuống) khí quản và thanh quản khi hít vào |
| Di chuyển xương đòn và vai lên cao khi hít vào |
| Di chuyển đầu về phía sau khi hít vào |
| Mút âm thanh trong khi hít vào ở bệnh nhân đặt nội khí quản thở tự nhiên (áp lực bóng chèn quá thấp) |
| Các triệu chứng toàn thân |
| Vã mồ hôi, mồ hôi lạnh |
| Kích động |
| Rung giật cơ hay run vẫy tay (tăng thán khí) |
| Lo âu, sợ hãi cái chết |
| Giảm cảm giác (như gọi không đáp ứng với âm thanh) |
| Giảm ý thức (a) |
Mất đồng bộ giữa bệnh nhân và máy thở
Phần lớn các biểu hiện của mất đồng bộ máy thở giữa bệnh nhân và máy thở thường được quan sát thấy trong giai đoạn thở tự nhiên được hỗ trợ. Tuy nhiên, các tình huống này cũng có thể xuất hiện trong thở máy có kiểm soát khi người bệnh “chiến đấu” chống lại máy thở.
Trên lâm sàng, biểu hiện thường được nhấn mạnh bởi việc máy thở ngắt các nỗ lực hít vào của bệnh nhân trong khi thể tích thông khí sử dụng rất thấp. Cách tiếp cận hiệu quả nhất để xác định bệnh nhân có đang chống lại máy thở hay không là chạm/sờ vùng bụng (Hình 5.10).
Tất cả các trường hợp bệnh nhân “chiến đấu” với thở máy có kiểm soát đều có co thắt cơ bụng, và thành bụng cứng hơn khi sờ nắn. Một điểm đáng lưu ý là một số quần thể người bệnh có nguy cơ cao mất đồng bộ máy thở khi thở máy có kiểm soát (ví dụ người bệnh phẫu thuật tim trong những giờ đầu sau phẫu thuật). Nếu cơ bụng không co thắt và thể tích thông khí thấp, cần loại trừ một cách hệ thống các nguyên nhân khác ngoài mất đồng bộ máy thở, bao gồm: tắc nghẽn một phần/toàn bộ ống, ngắt kết nối, rối loạn chức năng máy thở.
Một dạng mất đồng bộ khác trong thở máy có kiểm soát là những nỗ lực “lãng phí”. Trên lâm sàng, dạng này có thể nhận biết khi bệnh nhân có các nỗ lực hô hấp mà không cần máy thở hỗ trợ. Các nỗ lực hô hấp “lãng phí” như vậy đi kèm với giãn nở thành ngực tối thiểu; tốt nhất có thể phát hiện ở vùng thành ngực trên và trước.
Trong thở tự nhiên được hỗ trợ, rối loạn đồng bộ máy thở của bệnh nhân có thể phát sinh do không phù hợp giữa nỗ lực của bệnh nhân và máy thở liên quan đến thời điểm của thì hít vào hoặc thở ra, cũng như liên quan đến lưu lượng và thời gian hô hấp. Ngoài ra, độ nhạy kích hoạt dòng khí không đủ có thể dẫn đến rối loạn đồng bộ máy thở. Phân tích dạng sóng của máy thở là phương pháp tối ưu để phát hiện và giải thích sự không đồng bộ. Dấu hiệu lâm sàng thường gặp gồm nhịp tim nhanh, tăng huyết áp (đôi khi kèm mất ổn định huyết động), đổ mồ hôi, lo lắng và kích động. Các triệu chứng hô hấp của mất đồng bộ máy thở thường chỉ biểu hiện tinh tế.
Khi nghi ngờ mất đồng bộ, một thao tác đặc biệt hữu ích là liên tục quan sát kiểu thở của bệnh nhân trong ít nhất 1 phút trong khi tìm kiếm các kiểu mất đồng bộ khác nhau (Bảng 5.2).
| Bảng 5.2 Các dạng khác biệt về mất đồng bộ máy thở của bệnh nhân với các kết quả lâm sàng tương ứng và các vấn đề tiềm ẩn có thể xảy ra | ||
|---|---|---|
| Loại mất đồng bộ | Lâm sàng | Vấn đề |
| Nổ lực “lãng phí” (bệnh nhân phải gắng sức hít vào, nhưng không hiệu quả) |
Giãn nở thành ngực tối thiểu giữa các hơi thở với sự mở rộng thành ngực lớn hơn. |
Chế độ thở sai (ví dụ: kiểm soát, không hỗ trợ), độ nhạy kích hoạt quá thấp, tăng bơm động. |
| Mất đồng bộ dòng | Mở rộng thành ngực bị trì hoãn trong thì hít vào, nặng có thể giống như một đường thở bị tắc nghẽn. |
Tốc độ lưu lượng hít vào quá thấp, thời gian hít vào quá dài. |
| Tự động khởi kích (auto-trigger). | Nhịp thở nhanh không gây tăng công thở. |
Độ nhạy kích hoạt quá cao, nước/ dịch trong ống thở. |
| Khởi kích nhịp đôi | Hai thì hít vào nối tiếp nhau mà không thở ra ở giữa. |
Hỗ trợ áp lực quá thấp, hít vào quá ngắn. |
| Ho, chiến đấu, báo động áp lực hít vào lặp đi lặp lại |
Ho hoặc chiến đấu với máy thở khi hết thì hít vào. |
Hỗ trợ áp lực hoặc lưu lượng hít vào quá cao (ví dụ rò rỉ xung quanh mặt nạ trong khi thông khí không xâm lấn), thời gian hít vào quá lâu. |
Các dịch tiết từ khí phế quản
Kiểm tra dịch tiết khí quản là một nội dung quan trọng trong thăm khám lâm sàng chức năng phổi, đồng thời nhằm tìm kiếm nguồn lây nhiễm. Bọt, sủi bọt, hồng hoặc đỏ hồng như màu thịt trong dịch tiết ra gợi ý phù phổi. Trong phù phổi nặng, dịch tiết khí quản có thể nhiều đến mức lấp đầy hoặc trào ra khỏi miệng người bệnh. Trước khi tình trạng này xảy ra, giọng nói của bệnh nhân thường trở nên lọc xọc, gợi cảm giác có dịch trong hầu họng.
Ở người bệnh đặt nội khí quản trong bối cảnh phù phổi nặng, có thể quan sát thấy dịch bọt, sủi bọt trong ống nội khí quản ở mỗi lần thở ra hoặc trong toàn bộ chu kỳ hô hấp (Hình 5.11).
Trong một số trường hợp, lượng dịch phù vào ống có thể không nhiều, giảm nhanh và chỉ phát hiện được khi kiểm tra cẩn thận bằng cách nhận diện các vệt dịch lỏng màu hổ phách nhỏ hình thành trên bề mặt trong của ống.
Mặc dù số lượng dịch tiết khí quản có tương quan với mức độ nặng của phù phổi, nhưng sự xuất hiện của dịch tiết vẫn cần được diễn giải trong bối cảnh bệnh lý phổi khác. Ở một số ít trường hợp, dịch tiết khí quản có thể gần như bình thường ngay cả khi có viêm phổi hoặc xuất huyết phế nang lan tỏa. Đôi khi dịch tiết khí quản chỉ tăng lên trong giai đoạn đang giải quyết nhiễm trùng phổi. Tuy nhiên, theo nguyên tắc thực hành, nhiễm trùng phổi càng kéo dài (ví dụ viêm phế quản mãn tính hoặc giãn phế quản) thì càng ít khả năng dịch tiết khí quản không thay đổi.
Thỉnh thoảng có thể gặp một lượng lớn dịch tiết khí quản tương đối lỏng ở người bệnh nặng đặt nội khí quản nhưng không có bệnh lý phổi rõ ràng; khi đó có thể phản ánh phản ứng quá mẫn với các vật lạ ở ngoài khí quản.
Dịch tiết khí quản màu vàng, hơi nâu, thối hoặc có mủ mạnh mẽ gợi ý nhiễm trùng phổi đang diễn tiến. Mặc dù không hoàn toàn đặc hiệu, dịch tiết có mủ thường được quan sát nhiều hơn trong các nhiễm trùng do vi khuẩn của đường hô hấp xa và các vùng phế nang hơn là ở phế quản hoặc khí quản. Chất tiết có mùi hôi và màu vàng đến xanh đậm khiến bác sĩ lâm sàng cần cân nhắc giãn phế quản (Hình 5.12) hoặc áp xe phổi.
Dù màu sắc không chính xác tuyệt đối (ví dụ: dịch tiết có màu rỉ sắt trong nhiễm phế cầu khuẩn; dịch tiết màu xanh lục trong nhiễm trùng pseudomonas; chất tiết màu trắng đục trong nhiễm virus hoặc nấm), nhưng màu sắc của dịch tiết khí quản vẫn không cho phép kết luận chắc chắn về mầm bệnh hay vi sinh vật; đồng thời màu sắc vẫn phù hợp để dự đoán lâm sàng về một nhiễm trùng đường hô hấp ở phía dưới.
Dịch tiết khí quản màu hồng hoặc máu (haemoptysis) phản ánh tình trạng xuất huyết ở cây khí quản, đường dẫn khí xa hoặc phế nang, tuy nhiên đôi khi cũng có thể xuất phát từ đường thở (mũi, hầu họng) hoặc đường tiêu hóa. Dù một lượng máu nhỏ được hút từ khí quản ở người bệnh đặt nội khí quản trong nhiều ngày thường bắt nguồn từ một vết trầy sướt khí quản nhỏ (ví dụ do hút nhiều lần, đặc biệt khi tình trạng đông máu bị suy yếu), vẫn cần lưu ý rằng nó có thể biểu hiện chảy máu do tổn thương nghiêm trọng (ví dụ như khối u, loét xói mòn động mạch phổi, lỗ rò động mạch). Máu tươi đỏ tươi khi được tạo ra hoặc hút ra từ đường thở luôn được xem là tình huống khẩn cấp và cần chú ý ngay lập tức.
Khi so sánh với chảy máu từ các cơ quan hoặc mô khác, xuất huyết phổi có thể nhanh chóng dẫn đến tử vong (do nghẹt thở) ngay cả khi lượng máu mất từ nhỏ đến vừa phải (ví dụ > 250 - 500 mL). Ngoài các bệnh lý đã nêu ở trên, nhiều tình trạng lâm sàng khác cũng có thể gây ra ho ra máu (ví dụ: tắc mạch phổi, viêm phế quản, viêm phổi, lao phổi, áp xe phổi, ung thư biểu mô phế quản, ung thư mô tuyến phế quản, u nấm, xuất huyết phế nang lan tỏa, chấn thương, phản ứng với thuốc như bạch phiến hoặc cocaine, suy tim sung huyết, hẹp van hai lá).
Các dấu hiệu khác
Ngoài các nội dung đã đề cập trước đó, bác sĩ lâm sàng có thể thu thập thông tin bổ sung về chức năng và bệnh lý phổi thông qua các kiểm tra đơn giản. Chẳng hạn, việc kiểm tra các ngón tay có thể phát hiện các vết hằn trên móng tay hoặc các ngón tay ở xa màu vàng như dấu hiệu của việc hút thuốc lá thường xuyên, hoạt động nặng. Đổi màu đỏ của má có thể quan sát được trong một quá trình bệnh lý phổi nhiễm trùng (chủ yếu là viêm phổi mắc phải tại cộng đồng). Tương tự, thành ngực phía trên một màng phổi có mủ thường có màu đỏ và sung huyết.
Nhiễm herpes labial (herpes labialis, virus herpes simplex type 1) thường gặp ở bệnh nhân đang bị hoặc đang trong giai đoạn hồi phục sau nhiễm phế cầu khuẩn như viêm phổi hoặc viêm màng não (Hình 5.13).
Nghe
Không dùng ống nghe
Đặt ống nghe qua cổ có thể giúp nhận ra tiếng rít không thể (chưa) nghe được nếu không có ống nghe.
Nghe với ống nghe
Ống nghe cho phép người thăm khám nhận biết các hiện tượng âm thanh xuất phát từ khí quản, các phế quản lớn và vùng phổi ngoại vi. Do chỉ những âm thanh được tạo ra bởi luồng không khí trong các mô dưới màng phổi mới có thể được nghe ngay, nên độ nhạy của phương pháp nghe trong chẩn đoán các bệnh phổi cụ thể (ví dụ: viêm phổi) theo cách truyền thống nhìn chung là thấp.
Trong bối cảnh nguy kịch, việc nghe bị thách thức bởi thực tế là người bệnh thường không thể ngồi dậy để thuận tiện thực hiện thăm khám khi bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa (Hình 5.15). Vì vậy, ít vùng của phổi có thể được đánh giá trực tiếp tại các vị trí ngồi tiêu chuẩn.
Thông khí cơ học được kiểm soát dẫn đến phân phối không khí và luồng khí trong phổi khác so với (hỗ trợ) thở tự nhiên. Bệnh nhân bị bệnh nặng thường không thể hít thở sâu hoặc không hợp tác để cho phép đánh giá âm thanh giọng nói truyền qua. Cuối cùng, môi trường và cài đặt nơi bệnh nhân nặng được chăm sóc (ví dụ: giai đoạn trước bệnh viện hoặc phòng hồi sức bận rộn) thường nhiều tiếng ồn, khiến người thăm khám khó nhận ra các hiện tượng âm thanh tinh tế.
Các âm thở bình thường
Âm thở là kết quả của các luồng khí xoắn. Trong suốt thì hít vào, khi không khí di chuyển từ đường thở lớn đến đường nhỏ, sự va chạm với nhiều thành của các phế quản và các nhánh phân chia làm tạo ra nhiều luồng khí, do đó âm hơi thở có xu hướng to hơn. Ngược lại, trong thì thở ra, khi không khí đi từ đường thở nhỏ đến đường lớn, mức độ xáo trộn luồng không khí thấp hơn, nên âm hơi thở thường ít dữ dội hơn về âm lượng, thậm chí đôi khi khó nghe.
Tùy thuộc vị trí người thăm khám đặt ống nghe, âm thở bình thường có thể khác nhau về đặc tính. Nếu đặt ống nghe trực tiếp lên khí quản (ví dụ: qua cổ, thượng ức hoặc cạnh xương ức), người thăm khám sẽ nghe được âm thanh thô ráp và rõ của khí quản trong cả hít vào và thở ra. Khi đặt ống nghe ở hệ thống phế quản (ví dụ: phần dưới của xương ức hoặc vùng cạnh xương ức), có thể nghe những âm lớn, cao với một khoảng dừng ngắn giữa hít vào và thở ra, được gọi là âm hơi thở phế quản. Hơi thở rì rào được ghi nhận khi đặt ống nghe lên các phần khác của thành ngực và nghe ở ngoại vi phổi. Hơi thở rì rào có âm sắc mềm mại, âm vực thấp và giống tiếng gió; nó có thể được nghe trong suốt thì hít vào. Sau khi tạm ngưng cuối thì hít vào ngắn, âm rì rào hơi thở có thể được nghe về mặt sinh lý trong thì thở ra sớm nhưng thường to hơn trong thì hít vào (Bảng 5.3).
| Bảng 5.3: Tóm tắt các âm thở bất thường | |||
|---|---|---|---|
| Âm thở | Mô tả | Thì nghe | Giải thích |
| Hơi thở phế quản trên ngoại vi phổi | Hơi thở thô và lớn thay vì thở rìa rào bình thường | Hít vào và thở ra | Phổi chứa đầy chất lỏng như trong viêm phổi/đông đặc, ARDS hoặc quá tải chất lỏng |
| Hơi thở giảm hoặc vắng mặt | Hơi thở giảm âm lượng hoặc hoàn toàn vắng mặt | Hít vào và thở ra | 2 bên: thở nông, thông khí bảo vệ phổi, khí phế thũng, tăng bơm động (phổi câm ở bệnh hen /COPD), tràn khí màng phổi hai bên (hiếm), thành ngực dày (ví dụ như béo phì). 1 bên: đặt nkq vào 1 bên phế quản, xẹp phổi, tràn dịch, khí màng phổi |
| Tiếng rale ẩm | Cao độ, ngắt quãng/rõ ràng | Đầu thì hít vào | Viêm phế quản phổi, viêm phế quản, COPD hoặc giãn phế quản (thường là thô) |
| Miếng dán velcro bị kéo ra | Toàn hay cuối thì hít vào | Bệnh xơ phổi hay bệnh phổi mô kẽ | |
| Giống như các sợi tóc se giữa các ngón tay | Toàn hay cuối thì hít vào | Hai bên (đáy đến đỉnh): phù phổi. Một bên hoặc cục bộ: viêm phổi |
|
| Tiếng rale ngáy (dịch tiết cản trở) | Âm vực thấp (thô), ngáy, rung và đôi khi ríu rít | Hít vào và thở ra | Chất lỏng hoặc bán rắn trong cây thông khí quản (ví dụ: dịch tiết khí quản) |
| Khò khè | Âm liên tục, tiếng rít hoặc tiếng huýt sáo | Thở ra | Khu trú và đơn âm: khối u, chất nhầy, dị vật; lan tỏa và đa âm: hen suyễn, COPD, quá tải dịch, sung huyết phổi |
| Hít vào và thở ra | Tắc nghẽn một phần của khí quản xa hoặc chỗ tách khí quản (ví dụ: bởi một khối u hoặc dị vật) | ||
| Cọ màng phổi | Tiếng sột xoạt như đi trên tuyết | Hít vào và thở ra | Viêm hay kích ứng màng phổi |
Các âm thở phế quản nghe được vùng phổi ngoại vi
Âm thở phế quản được xem là có mặt khi âm thanh được nghe thấy trong cả thì hít vào và thì thở ra, đồng thời có cùng cường độ và cùng thời gian. Việc phát hiện âm thở phế quản thay cho âm thở rì rào ở ngoại vi phổi là bất thường.
Hiện tượng âm thở phế quản xảy ra khi đường thở thông thoáng, nhưng được bao quanh bởi mô phổi liền kề đã chứa đầy dịch hoặc đông đặc; nhờ đó, âm thanh hơi thở từ phế quản lớn có thể truyền tốt hơn ra vùng ngoại vi của phổi. Các tình trạng thường gặp trong đó âm thở rì rào bị thay thế bằng âm thở phế quản bao gồm viêm phổi, hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS) và các tình trạng quá tải dịch.
Giảm hay vắng mặt âm thở
Cường độ hoặc âm lượng của âm hơi thở sinh lý phụ thuộc vào nhiều yếu tố, gồm độ dày thành ngực và tốc độ cũng như lượng khí đi vào phổi. Vì vậy, ví dụ, âm thở có thể chỉ nghe thấy giảm âm ở bệnh nhân béo phì hoặc ở người có thể tích thông khí nhỏ [ví dụ: khi thở nông hoặc (bảo vệ phổi) thở máy]. Ngoài ra, như thường ghi nhận trong thực hành, chất lượng và loại ống nghe cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến âm lượng mà người thăm khám cảm nhận.
Khi nghe bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa, sinh lý học cho thấy ít không khí đi vào đáy phổi so với phần trên; do đó âm hơi thở bị giảm ở các vùng phổi phụ thuộc. Điều này đặc biệt rõ khi bệnh nhân thở máy có kiểm soát, bởi luồng khí hô hấp được tạo ra nhờ áp lực dương thay vì áp lực âm và không khí chủ yếu được phân phối đến các khu vực phổi không phụ thuộc.
Ngoài ra, một số bệnh lý (ví dụ khí phế thũng) có thể làm giảm âm lượng hơi thở. Khi không có không khí đi vào các mô phổi bị xẹp, âm thở (phế quản) ở các khu vực tương ứng sẽ giảm. Do âm thở được truyền từ các phân đoạn phổi liền kề, các phần đáng kể của phổi (ví dụ: phần lớn của một thùy) cần phải bị xẹp và không thông khí trước khi âm thanh hơi thở không còn được nghe thấy.
Không khí hoặc dịch trong khoang màng phổi cũng làm giảm cường độ âm thở. Ở đa số bệnh nhân tràn khí màng phổi, không khí trong khoang màng phổi bao phủ (và làm nén) phổi; kết quả là âm thở giảm dần và xa hơn hoặc, trong tràn khí màng phổi lớn, âm thở có thể vắng mặt hoàn toàn ở bên ngực bị ảnh hưởng. Do âm thở được truyền từ các phân đoạn phổi liền kề, âm thở từ phổi đối diện có thể vẫn được nghe thấy trên thành ngực đối bên cạnh xương ức ngay cả khi bệnh nhân bị tràn khí màng phổi.
Một nguyên nhân quan trọng khác của tình trạng âm thở vắng mặt ở một bên ngực là (không cố ý) đặt nội khí quản và thông khí chỉ một phổi. Mặc dù số lượng dịch màng phổi có thể rất lớn (ví dụ trong tràn máu màng phổi lượng nhiều), nhưng lại là bất thường khi âm thở giảm hoặc mất trên toàn bộ 1 bên ngực. Khi dịch đọng lại ở các vùng phụ thuộc của khoang màng phổi, âm thở thường giảm hoặc vắng mặt ở các vùng này; xẹp phổi thụ động (do nén) thường đi kèm tràn dịch màng phổi. Ở một số bệnh nhân, có thể nghe được các tiếng rale nhỏ hạt qua vùng chuyển tiếp giữa phổi bị nén và phổi được thông khí, phản ánh tình trạng mở và xẹp luân phiên của các phân đoạn phổi trong từng chu kỳ hô hấp.
Việc phân biệt giữa tràn dịch màng phổi và xẹp phổi bằng nghe là khó khăn. Ở bệnh nhân tỉnh táo và hợp tác, có thể hỗ trợ bằng kiểm tra sự truyền giọng nói. Nếu bệnh nhân phát âm "eee" và người thăm khám nghe được tiếng "aaa" trên vùng phổi bị ảnh hưởng, thì gợi ý xẹp phổi thay vì tràn dịch. Hiện tượng này được gọi là "aegophony" và do âm thanh giọng nói được tăng cường khi truyền qua mô phổi đông đặc hoặc không có khí, trái ngược với dịch màng phổi (cũng có thể nghe thấy ở những nơi có phổi xơ hóa).
Âm ran ẩm (tiếng lốp bốp)
Về cơ chế, crackles hình thành do các phế nang hoặc các đường dẫn khí xa được mở ra trong quá trình hít vào. Tiếng kêu lốp bốp xuất hiện sớm trong thì hít vào phản ánh việc mở đường thở có đường kính > 2 mm; âm vực của crackle sớm thường thấp hơn so với crackles muộn hoặc xuất hiện trong toàn thì hít vào. Crackle sớm thường nghe “thô” và gặp ở các bệnh nhân viêm phế quản phổi, viêm phế quản, COPD hoặc giãn phế quản.
Ngược lại, crackles muộn hoặc crackles xuất hiện suốt cả thì hít vào có tính chất “mịn” hơn, cao hơn và là kết quả của việc mở các phế nang bị xẹp khi hít vào. Các bệnh lý đặc trưng tại phế nang như viêm phổi, phù phổi hoặc bệnh phổi kẽ/xơ hóa thường tạo ra crackles muộn hoặc crackles xuất hiện toàn thì hít vào.
Phân biệt theo bệnh cảnh: trái với phù phổi và bệnh phổi kẽ/xơ hóa, viêm phổi thường tạo ra crackles khu trú và kèm rale ngáy (hoặc ứ đọng đàm). Đối với phù phổi, âm crackle được mô tả tương tự âm thanh của một sợi tóc được cuộn giữa các ngón tay; trong khi đó, ở bệnh nhân bệnh phổi kẽ/xơ hóa (ví dụ xơ phổi vô căn), âm crackle lại được so sánh với âm thanh tạo ra bởi các miếng kéo dán velcro riêng biệt.
Cần lưu ý rằng crackles có thể không xuất hiện ở tất cả bệnh nhân xơ phổi. Hiện tượng này dường như liên quan đến bản chất của tình trạng xơ hóa: crackles thường được ghi nhận ở hầu hết bệnh nhân xơ phổi vô căn (do thay đổi xơ hóa ở đoạn phế quản cuối và phế nang), nhưng chỉ thấy ở một số ít người mắc xơ phổi do sarcoid (các thay đổi liên quan đến bó mạch-phế quản, không phải các đường dẫn khí nhỏ tận cùng).
Nguyên tắc là càng nghe thấy nhiều âm crackle ở vùng thành ngực trước thì phù phổi thường càng nặng. Ở bệnh nhân mắc bệnh nặng, khi dịch phù nề lan từ phế nang đến các đường thở gần hơn, có thể nghe thấy tiếng crackle kèm ngáy thở ra. Ở một số bệnh nhân suy tim, các crackle nền có thể thay đổi vị trí khi đổi tư thế từ nằm bán ngồi sang nằm ngửa hoàn toàn. Ở bệnh nhân sung huyết tĩnh mạch phổi, có thể xuất hiện âm crackle trong vòng vài phút khi chuyển sang tư thế nằm ngửa.
Trước khi nghe thấy crackles, thường gặp thở khò khè thường xuyên khi phổi chứa đầy nước; khi đó lượng dịch tăng làm nén các đường thở xa ở đáy, từ đó cản trở luồng khí thở ra.
Ran ngáy
Về nguyên nhân, tắc nghẽn một phần ở các đường thở cỡ trung bình và lớn do chất lỏng hoặc chất bán rắn (chủ yếu là dịch tiết dày và đàm quánh) là nguyên nhân bệnh lý phổ biến nhất gây ra ran ngáy. Các âm thanh này đôi khi còn được xem như dấu hiệu của ứ đọng đàm nhớt.
Âm khò khè
Một tiếng khò khè khu trú thường là đơn âm (được tạo ra bởi một âm vực đơn) và liên quan đến sự tắc nghẽn của một đường thở “lớn hơn”, ví dụ do khối u, nút nhầy, cơ thể dị vật, hoặc sự chèn ép bởi một khối ở trung thất. Trong một số ít trường hợp đặc biệt, lỗ mở đầu xa của ống nội khí quản (không có mắt Murphy) có thể trực tiếp đối diện với thành sau của khí quản, gây tắc nghẽn ống trong thì thở ra và dẫn tới tình trạng thở ra kéo dài nghiêm trọng kèm khò khè.
Tương tự, tiếng khò khè đơn âm có thể được nghe trên cả hai phổi ở những bệnh nhân rối loạn chức năng dây thanh có biểu hiện giống như hen suyễn. Khi một tiếng khò khè được nghe trên cả hai phổi, thường mang tính chất đa âm vì nó xuất phát từ nhiều âm vực khác nhau do thu hẹp các đường dẫn khí kích thước và vị trí khác nhau (“hen phế quản concerto”).
Nhiều bệnh lý có thể gây hẹp đường thở, trong đó các nguyên nhân bao gồm co thắt phế quản nguyên phát do hen suyễn hoặc shock phản vệ. Ở bệnh nhân nguy kịch, các tình trạng thường gặp liên quan đến thở khò khè gồm COPD, quá tải dịch phổi và suy tim trái.
Điều cần lưu ý là trong tắc nghẽn đường thở nhỏ nghiêm trọng (ví dụ cơn hen nặng hoặc đợt cấp của COPD) hoặc khi luồng khí quá thấp (ví dụ thể tích thông khí thấp trong mất bù hô hấp hoặc (siêu) thông khí bảo vệ phổi), thể tích khò khè có thể giảm hoặc thậm chí không nghe được (phổi câm). Tuy nhiên, cao độ và độ dài của tiếng thở khò khè tương quan với mức độ nghiêm trọng của tắc nghẽn luồng khí thở.
Tiếng cọ màng phổi
Khác với crackles, tiếng cọ màng phổi được nghe trong cả thì hít vào và thì thở ra và thường được khu trú tại một vùng tương đối nhỏ. Tiếng cọ màng phổi ít khi gặp ở bệnh nhân bệnh nặng; tuy nhiên đôi khi có thể xuất hiện ở người bị viêm phổi hoặc những bệnh nhân thuyên tắc phổi gần đây.
Ở bệnh nhân có dẫn lưu màng phổi với lượng lớn hơn (> 20 Charrière) và dưới áp lực âm, có thể nghe thấy tiếng cọ. Ở những bệnh nhân có lỗ rò phế quản-màng phổi và đang có dẫn lưu tại chỗ, sự sủi bọt của không khí thoát ra từ mức nước có thể được nghe thấy từ xa khi thăm khám bằng nghe.
Sờ
Gõ
THĂM KHÁM LÂM SÀNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐẶT VÀ RÚT ỐNG NỘI KHÍ QUẢN
Nhận diện đường thở khó theo đặc điểm giải phẫu
Việc thiết lập một đường thở an toàn (liên quan đến giải phẫu, sinh lý và toàn bộ quá trình) có thể gặp nhiều trở ngại. Do đó, thăm khám lâm sàng có vai trò cốt lõi nhằm nhận biết sớm đường thở khó cả về mặt giải phẫu lẫn sinh lý, từ đó bảo đảm thực hành chuẩn bị phù hợp trong các bước tiếp theo.
Không có một dấu hiệu lâm sàng đơn lẻ nào vừa đủ nhạy vừa đủ đặc hiệu để dự đoán đường thở khó. Tuy vậy, mức độ dự đoán có giá trị cho đường thở khó về mặt giải phẫu có thể đạt được khi áp dụng phương pháp LEMON. LEMON là viết tắt của: Nhìn (Look), Đánh giá (Evaluate), điểm Mallampati, Tắc nghẽn (Obstruction) và độ di chuyển của cổ (Neck mobility). Các dấu hiệu lâm sàng cần được ghi nhận được tóm tắt trong Bảng 5.4.
| Bảng 5.4: Các dấu giải phẫu gợi ý đường thở khó | |
|---|---|
| Khó để mask thông khí | Khó soi và đặt nội khí quản |
|
|
Phần đánh giá còn bao gồm kỹ thuật thăm khám 3-3-2 (được mô tả trong Bảng 5.5 và Hình 5.27).
| Bảng 5.5: Kỹ thuật thăm khám 3-3-2 | |||
|---|---|---|---|
| Bước thăm khám | Đánh giá của | Câu hỏi | Giải thích nếu “không” |
| 1 | Mở miệng | Có phải BA ngón tay (cỡ bệnh nhân) vừa khít giữa các răng cửa? | Đặt lưỡi đèn soi thanh quản và soi thanh quản có thể khó khăn |
| 2 | Thể tích của khoang dưới hàm | Có phải BA ngón tay (cỡ bệnh nhân) phù hợp giữa xương cằm và xương móng? | Soi thanh quản có thể khó khăn |
| 3 | Vị trí của thanh quản | Có HAI ngón tay (cỡ bệnh nhân) có khớp giữa xương móng và sụn tuyến giáp không? | Soi thanh quản và đặt có thể khó khăn. |
Các bước kiểm tra của kỹ thuật thăm khám 3-3-2 để nhận ra đường thở khó về mặt giải phẫu.
Mặc dù điểm Mallampati lần đầu được mô tả trên bệnh nhân ngồi khi đánh giá trước phẫu thuật và chưa được xác nhận ở bệnh nhân bị bệnh nặng, nhưng vẫn đáng để thực hiện đánh giá. Bệnh nhân được yêu cầu thè lưỡi ra càng xa càng tốt trong khi phát âm “aahh”. Khả năng nhìn thấy của vòm miệng và khẩu cái mềm được kiểm tra và phân loại thành bốn nhóm (Hình 5.28).
Phân loại Mallampati
Mặc dù cơ hội để nội soi thanh quản không biến chứng và đặt nội khí quản rất cao ở nhóm 1, nhưng nguy cơ nội soi thanh quản khó khăn lại rất đáng kể ở nhóm ba và bốn. Khả năng vận động của cổ chỉ được đánh giá ở những bệnh nhân không có sự bất ổn của cột sống cổ; vì vậy, không phải đánh giá cho tất cả bệnh nhân bị bệnh nghiêm trọng, đặc biệt không phải ở bệnh nhân trong môi trường ngoại viện hoặc khoa cấp cứu. Cách đơn giản nhất để xác nhận khả năng vận động cổ đầy đủ cho nội soi thanh quản là di chuyển thụ động đầu bệnh nhân. Ngoài ra, ở bệnh nhân tỉnh táo, có thể yêu cầu bệnh nhân cúi đầu sao cho cằm chạm vào thành ngực.
Các chỉ điểm lâm sàng nhằm xác định vị trí đầu nội khí quản
Các phương pháp đáng tin cậy nhất để xác nhận vị trí ống nội khí quản chính xác gồm: hình ảnh trực tiếp (nội soi phế quản hoặc soi thanh quản trực tiếp) và đo carbon dioxide cuối thì thở ra. Trong khi đó, thăm khám lâm sàng chỉ có thể gợi ý đặt ống chính xác và quan trọng hơn là tránh tình huống đặt không đúng. Các dấu hiệu này có thể được dùng như biện pháp bổ sung, hoặc trong trường hợp các kỹ thuật nêu trên không sẵn có hoặc chưa được triển khai.
Dãn rộng thành ngực hai bên và/ hoặc nghe tiếng thở hai bên đồng bộ với thở máy ở bệnh nhân không thở thường cho thấy vị trí ống nội khí quản chính xác. Tuy nhiên, dấu hiệu này kém giá trị nếu bệnh nhân duy trì nhịp thở tự nhiên trong quá trình đặt nội khí quản. Ở tình huống thứ hai, có thể cảm nhận luồng khí thở ra ở cuối ống để hỗ trợ xác nhận vị trí ống. Một phương pháp sàng lọc nhanh khác liên quan đến việc đặt chắc chắn các ngón tay của người thăm khám vào một khoảng liên sườn trước của ngực trái (Hình 5.29).
Kỹ thuật sàng lọc nhanh để đánh giá vị trí đặt ống nội khí quản ở hơi thở đầu tiên với túi thông khí (xem mũi tên màu vàng và văn bản để giải thích).
Khi cung cấp một hơi thở chắc chắn qua nội khí quản bằng bóp bóng hoặc máy thở, sự giãn nở phổi đồng bộ có thể được cảm nhận bằng đầu ngón tay (mũi tên màu vàng).
Nếu ống nội khí quản đặt quá xa, đầu ống thường đi vào phế quản gốc chính bên phải, gây giảm thông khí phổi trái. Việc xác định vị trí chính xác bên trong của đầu ống chỉ dựa trên kiểm tra lâm sàng là rất khó. Do thường tồn tại rò rỉ không khí nhỏ giữa bóng chèn nội khí quản và sự phân chia khí quản, âm thở giảm dần có thể được nghe thấy qua phổi đối diện (chủ yếu là bên trái) khi nghe. Chỉ trong một số trường hợp hiếm, khi ống được đưa đủ sâu để che phủ/ xóa sạch toàn bộ phế quản gốc phải hoặc trái, thì tiếng thở đối nghịch không còn. Ngoài việc quan sát chuyển động thành ngực và nghe tiếng thở hai bên, độ sâu chèn của ống có giá trị với độ nhạy và độ đặc hiệu cao nhất để phát hiện tình trạng đặt nội khí quản vào phế quản, với mốc độ sâu: 20-21 cm ở nữ và 22-23 cm ở nam giới [3].
Điểm quan trọng là kiểm tra lâm sàng cũng có thể giúp nhận ra ống nội khí quản bị đặt lạc chỗ vào thực quản. Trừ khi nhịp thở tự nhiên được duy trì trong suốt quá trình đặt nội khí quản, không có chuyển động và/hoặc diễn tiến theo hướng xấu đi hoặc xuất hiện xanh tím dù đã được thông khí được coi là dấu hiệu chủ yếu của đặt nội khí quản vào thực quản. Khi đưa hơi thở tới thực quản bằng túi thông khí, cảm giác có thể tương tự như khi đưa hơi thở vào phổi; tuy nhiên, không khí thở ra hoặc chỉ tăng chậm hơn rất nhiều từ dạ dày/ thực quản so với phổi. Tình trạng này thường kèm theo âm “lọc xọc”. Sự hiện diện của dịch dạ dày trong ống (lưu ý không nhầm với dịch phù phổi) khi thì thở ra là một dấu hiệu gợi ý khác có giá trị đặt nội khí quản vào trong thực quản (trừ khi đã có hít sặc dịch dạ dày trước đó). “Sương mù” đường hô hấp thường không xuất hiện khi đặt nội khí quản vào thực quản, nhưng có thể được quan sát thấy ở giai đoạn sau khi một lượng lớn khí thoát ra qua ống trong khi giải phóng áp lực dương khí bóp vào dạ dày trước đó.
Đánh giá mức độ sẵn sàng để rút nội khí quản
Bệnh cảnh nuốt khó (sau rút nội khí quản)
ĐÁNH GIÁ LÂM SÀNG DÂY DẪN ECMO
Trong theo dõi hệ thống dây dẫn oxy hóa màng ngoài cơ thể (ECMO), các kỹ thuật kiểm tra và sờ nắn có vai trò then chốt. Việc kiểm tra chi tiết hằng ngày toàn bộ các thành phần của dây dẫn nhằm bảo đảm tính toàn vẹn và chức năng đầy đủ là yêu cầu bắt buộc.
Song song, băng vết thương và các vị trí tổn thương phải được kiểm tra để phát hiện dấu hiệu rỉ máu hoặc chảy máu, vì đây là các chỉ số gợi ý rối loạn đông máu (mắc phải). Hiện tượng tan máu liên quan có thể tiến triển nhanh và được nhận biết tại giường bằng cách quan sát xem nước tiểu hoặc màng lọc máu có màu hồng hay không. Mặc dù dây dẫn ECMO có thể được chăm sóc bởi bác sĩ chuyên khoa tưới máu (perfusionist) chuyên dụng, bác sĩ phụ trách điều trị (chăm sóc đặc biệt) cũng có thể thực hiện kiểm tra này.
Không phụ thuộc vào chế độ ECMO (tĩnh mạch - tĩnh mạch hoặc tĩnh mạch - động mạch), màu của máu sau máy tạo oxy phải luôn là đỏ tươi. So sánh trực quan màu máu sau máy tạo oxy với màu máu trước màng là cách đánh giá hữu ích (Hình 5.31).
Kiểm tra màu máu máu trước và sau máy tạo oxy của mạch ECMO. (a) Bình thường: khử oxy / máu tĩnh mạch trước máy tạo oxy và máu đỏ tươi sau máy tạo oxy. (b) Nguy hiểm: khử oxy / máu tĩnh mạch trước và sau máy tạo oxy cho thấy mất chức năng oxy hoặc cung cấp oxy.
Nguyên nhân của thay đổi cấp tính về màu sắc máu sau oxy hóa thường do biến cố bất ngờ trong ECMO FiO2 hoặc do thất bại của nguồn oxy. Tuy vậy, tình trạng suy giảm chức năng oxy hóa của màng thường được phát hiện sớm bằng sự giảm PaO2 sau oxy hóa trước khi xuất hiện bất kỳ biến đổi thị giác nào về màu sắc máu tiến triển dần dần. Bề mặt bên ngoài của máy tạo oxy cần được kiểm tra dưới nguồn sáng (Hình 5.32).
Kiểm tra máy tạo oxy cho sự hiện diện của huyết khối.
Các sợi fibrin nhỏ, thường có màu sẫm, hoặc các huyết khối có thể được quan sát; cùng với PO2 sau màng oxi hóa, chúng gợi ý rối loạn chức năng oxy hóa do cục máu đông.
Nếu vòng quay của bơm được cài đặt quá cao, làm cho đổ đầy tĩnh mạch quá thấp hoặc khi ống dẫn lưu bị lệch trục, tình trạng vuốt ống tĩnh mạch (ống bị xẹp/thoát nước kém) có thể xảy ra, và thường xuất hiện trước khi giảm lưu lượng máu. Trước khi vuốt hoặc lắc ống tĩnh mạch có thể nhận thấy, vẫn có thể sờ để đánh giá rung động của ống bằng tay (Hình 5.33).
Sờ để cảm nhận các rung động của ống tĩnh mạch cho thấy sự thoát nước của máu tĩnh mạch bị suy yếu.
Bong bóng khí (hoặc trong trường hợp nghiêm trọng thậm chí là bọt) là nguyên nhân phổ biến gây dừng cấp tính bơm và cần được nhận biết khẩn cấp thông qua kiểm tra trực quan dây dẫn.
THỰC HÀNH LÂM SÀNG
Dấu Schamroth
| Box 1: Dấu Schamroth |
|---|
| Việc áp các mặt lưng của hai đoạn xa của ngón tay và móng tay thường tạo ra một khoảng trống hình kim cương (cửa sổ Schamroth) tại vùng móng. Khi không thấy tồn tại khoảng trống này, có thể coi đó là dấu Schamroth dương tính, gợi ý ngón tay cum. |
Các đặc trung xác định móng tay cum
| Box 2: Các đặc trung xác định móng tay cum |
|---|
| 5 đặc điểm xác nhận móng tay cum hình dùi trống: |
|
Các chỉ điểm lâm sàng gợi ý 1 cơn Hen nặng
| Box 3: Các chỉ điểm lâm sàng gợi ý 1 cơn Hen nặng |
|---|
|
Phân biệt 2 thể lâm sàng của COPD
| Box 4: Phân biệt 2 thể lâm sàng của COPD | ||
|---|---|---|
| Khí phế thủng “pink puffer” |
Viêm phế quản “blue bloater |
|
| Bệnh đồng mắc | ||
| Chỉ số khối cơ thể | Thấp | Cao |
| Chỉ số khối cơ thể | + | +++ |
| Bệnh lý chuyển hóa | + | +++ |
| Khó thở kiểu tắc nghẽn | - | +++ |
| Suy giảm chức năng phổi | +++ | - |
| Chức năng phổi | ||
| Khí phế thủng | +++ | + |
| Khả năng khuếch tán khí CO | Thấp | Bình thường/ giảm nhẹ |
| Khó thở | +++ | + |
| Khó thở | Giảm nặng | Giảm nhẹ hay vừa |
| Điều trị cơn mất bù | ||
| Nguy cơ bẫy khí | +++ | + |
| Suy cơ trụy tim mạch sau đặt nội khí quản | +++ | + |
| Biến chứng khi thở máy | +++ | ++ |
Tài liệu tham khảo
- Thăm khám lâm sàng tại ICU. Clinical Examination Skills in the Adult Critically ill patient. Dịch sang tiếng Việt. Bs. Hồ Hoàng Kim
- Vazquez R, Gheorghe C, Ramos F, Dadu F, Amoateng- Adjepong Y, Manthous CA (2010) Gurgling breath sounds may predict hospitalacquired pneumonia. Chest 138:284–288
- Endobronchial intubation detected by insertion depth of endotracheal tube, bilateral auscultation, or observation of chest movements: randomized trial. BMJ 341:c5943



