GIỚI THIỆU
- Viêm não do virus Herpes là bệnh nhiễm trùng thần kinh trung ương có diễn biến cấp tính và thường xuất hiện rải rác, không mang tính mùa.
- Virus Herpes xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương, gây hoại tử nhu mô não và có thể kèm xuất huyết.
- Bệnh thường khởi phát đột ngột.
- Biểu hiện lâm sàng bao gồm sốt và rối loạn ý thức; bệnh có xu hướng diễn biến nặng, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ tử vong cao.
- Tuy nhiên, khi chẩn đoán sớm và triển khai điều trị đặc hiệu bằng Acyclovir tĩnh mạch cùng chăm sóc tích cực, người bệnh có tiên lượng tốt.
NGUYÊN NHÂN
- Tác nhân gây bệnh là virus Herpes simplex (HSV) typ 1 (chiếm > 95% số ca) và typ 2 (chiếm < 5% số ca).
- HSV thuộc họ Herpeviridae.
- Viêm não do HSV có thể xảy ra trong nhiễm virus tiên phát hoặc do virus tồn tại tiềm tàng trong cơ thể, sau đó tái hoạt và xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương.
CHẨN ĐOÁN
Lâm sàng
- Khởi phát đột ngột.
- Biểu hiện thường gặp gồm sốt và đau đầu. Các dấu thần kinh khu trú gợi ý tổn thương thùy thái dương và thùy trán não, thể hiện bằng thay đổi cảm nhận mùi hoặc mất cảm giác mùi, thay đổi tính cách và mất trí nhớ. Ngoài ra, có thể xuất hiện các biểu hiện tổn thương não khác như co giật, hôn mê, v.v…
- Viêm não có thể đồng thời đi kèm viêm màng não; khi đó người bệnh có thể có cứng gáy và dấu Kernig dương tính.
Cận lâm sàng
Công thức máu
- Không ghi nhận biến đổi đặc hiệu.
Dịch não tủy
- Protein thường tăng nhẹ, < 1 g/l.
- Bạch cầu tăng (10-200 tế bào/mm3, hiếm khi > 500/mm3), đa số là lymphocyte.
- Trong giai đoạn sớm, bạch cầu trung tính có thể chiếm ưu thế.
- Có thể ghi nhận hồng cầu trong DNT do tình trạng xuất huyết hoại tử nhu mô não.
- DNT có thể bình thường ở một số trường hợp.
Chẩn đoán hình ảnh
- Tổn thương não có thể được phát hiện sau khởi phát triệu chứng 2-4 ngày.
- Chụp cộng hưởng từ (MRI) có độ nhạy cao hơn chụp cắt lớp vi tính trong phát hiện sớm tổn thương não do HSV và do đó cần được chỉ định trong giai đoạn đầu của bệnh.
- Các tổn thương gợi ý viêm não do HSV bao gồm giảm tín hiệu thì T1 và tăng tín hiệu thì T2 ở chất xám thùy thái dương và thùy trán; có thể kèm xuất huyết. Tổn thương thường không đối xứng, có thể lan tới thùy đảo và góc hồi hải mã.
- MRI bình thường trong khoảng 10% số bệnh nhân có HSV-PCR (+).
Điện não đồ (EEG)
- Có thể ghi nhận hoạt động sóng chậm không đặc hiệu trong 5-7 ngày đầu; sau đó xuất hiện sóng nhọn kịch phát hoặc phức hợp pha ưu thế ở vùng thái dương.
- Có thể gặp phóng điện dạng động kinh từng đợt ở thùy thái dương, thường vào ngày thứ 2-14 của bệnh.
Chẩn đoán xác định
- Cần nghĩ tới viêm não do HSV ở bất kỳ người bệnh nào có biểu hiện viêm não cấp tính, đặc biệt trong các trường hợp bệnh rải rác không mang tính chất mùa, khi có các biểu hiện gợi ý tổn thương thùy thái dương hoặc thùy trán não ở một bên.
- Chẩn đoán xác định viêm não do HSV: dựa vào xét nghiệm PCR ADN HSV trong dịch não tủy. Xét nghiệm có độ nhạy và độ đặc hiệu cao. PCR HSV có thể âm tính giả nếu lấy mẫu trong vòng 1-3 ngày sau khởi bệnh.
Chẩn đoán phân biệt
Viêm não do HSV cần được phân biệt với viêm màng não mủ và các viêm não do virus khác.
- Viêm màng não mủ: viêm màng não mủ cũng có diễn biến cấp tính, có sốt và có thể kèm rối loạn ý thức, tương tự như viêm não do HSV. DNT trong VMN mủ thường tăng protein (thường > 1 g/L), đường giảm, tế bào tăng cao (từ vài trăm đến hàng chục nghìn tế bào/mm3), chủ yếu là bạch cầu đa nhân trung tính. Soi và cấy DNT giúp xác định vi khuẩn gây bệnh.
- Viêm não do các virus khác: (viêm não Nhật Bản, các loại Enterovirus, v.v…) có thể có diễn biến tương tự viêm não do HSV; biến loạn DNT không khác biệt so với viêm não do HSV. Tổn thương não lan tỏa trên phim cộng hưởng từ thường gặp ở các viêm não do virus khác, trong khi tổn thương trong viêm não do HSV có ưu thế ở thùy trán và thùy thái dương. Xét nghiệm PCR đặc hiệu cho các virus viêm não Nhật Bản và Enterovirus có giá trị trong xác định căn nguyên này.
ĐIỀU TRỊ
Mục tiêu và nguyên tắc điều trị
- Điều trị viêm não do HSV bao gồm điều trị đặc hiệu bằng thuốc kháng virus acyclovir tĩnh mạch và điều trị hỗ trợ.
- Cần chỉ định sớm acyclovir ngay khi nghi ngờ viêm não do HSV, đồng thời tiến hành các xét nghiệm chẩn đoán (MRI sọ não và pcr Herpes dịch não tủy).
- Điều trị đặc hiệu khởi đầu muộn có nguy cơ tử vong cao và để lại di chứng thần kinh nặng nề ở người bệnh có thể sống sót.
Điều trị thuốc kháng virus acyclovir
- Liều dùng: Acyclovir 10 mg/kg truyền tĩnh mạch mỗi 8 giờ. Acyclovir phải được pha đến nồng độ ≤ 7 mg/ml (tối thiểu 50 ml dung môi cho 250 mg thuốc hoặc 100 ml cho 500 mg) và truyền trong thời gian trên 1 giờ để hạn chế ảnh hưởng lên chức năng thận. Bù đủ nước trước và sau khi truyền acyclovir (dịch vào 2-3 lít/ngày), thay đổi vị trí truyền để tránh viêm mạch; thận trọng khi phối hợp các thuốc có nguy cơ gây độc cho thận và giảm liều khi người bệnh có suy thận.
- Thời gian điều trị: Điều trị acyclovir tĩnh mạch trong 10-14 ngày đối với người bệnh viêm não do HSV không suy giảm miễn dịch. Với các trường hợp viêm não do HSV nặng hoặc người bệnh suy giảm miễn dịch, thời gian điều trị có thể kéo dài đến 21 ngày. Xét nghiệm lại PCR Herpes DNT sau thời điểm này và dừng acyclovir khi không còn phát hiện được ADN của virus trong dịch não tủy. Trong trường hợp PCR còn dương tính, tiếp tục điều trị acyclovir và xét nghiệm lại PCR sau 1 tuần; dừng điều trị khi xét nghiệm âm tính.
- Không khuyến cáo acyclovir uống do khả năng hấp thu qua niêm mạc ruột thấp và nồng độ trong máu/dịch não tủy không bảo đảm.
- Nếu người bệnh được bắt đầu điều trị acyclovir tĩnh mạch do nghi ngờ viêm não do HSV nhưng sau đó chẩn đoán được loại trừ (xác định một bệnh lý khác, hoặc không có tổn thương đặc trưng trên MRI sọ não và PCR Herpes dịch não tủy âm tính), cần ngừng acyclovir.
Điều trị hỗ trợ
Người bệnh viêm não do HSV ở giai đoạn sớm cần được điều trị và theo dõi tại khoa điều trị tích cực; các chức năng sống như hô hấp và tuần hoàn phải được giám sát sát sao và can thiệp khi cần thiết. Các điều trị hỗ trợ bao gồm:
- Hạ nhiệt bằng paracetamol uống hoặc truyền tĩnh mạch.
- Điều trị tăng áp lực nội sọ.
- Điều chỉnh rối loạn nước và điện giải.
- Điều trị chống co giật nếu xảy ra.
- Điều trị corticoid phối hợp với acyclovir được ghi nhận có hiệu quả trong viêm não do HSV nhờ tác dụng làm giảm phù não và giảm phản ứng viêm trong nhu mô não.
- Sử dụng kháng sinh chống bội nhiễm khi có chỉ định.
TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG
- Người bệnh viêm não do HSV được điều trị sớm bằng acyclovir tĩnh mạch thường có diễn tiến thuận lợi dần: sốt giảm dần và nhiệt độ trở về bình thường trong 3-5 ngày, đồng thời ý thức cải thiện dần.
- Các yếu tố tiên lượng tốt bao gồm điều trị đặc hiệu acyclovir sớm, người bệnh trẻ tuổi, và tình trạng tinh thần theo thang điểm Glasgow lúc bắt đầu điều trị không quá thấp.
- Một số người bệnh vẫn có di chứng về thần kinh sau điều trị, đặc biệt là ở nhóm > 50 tuổi.
- Các di chứng có thể gặp gồm động kinh, sa sút trí tuệ, giảm trí nhớ, v.v… Người bệnh cần được thực hiện điện não đồ để đánh giá động kinh; điều trị phục hồi chức năng khi có chỉ định.
PHÒNG BỆNH
- Hiện chưa có biện pháp có hiệu quả để dự phòng viêm não do HSV.
Tài liệu tham khảo
- Hướng dẫn điều trị bệnh truyền nhiễm. Bộ Y Tế. 2015. Số: 5642/QĐ-BYT - Bộ y tế
- Herpes simplex virus type 1 encephalitis